Tin tức & Phát triển bền vững

EPR bao bì thủy tinh: Chai, lọ thủy tinh kê khai và tái chế thế nào?

EPR chai lọ thủy tinh

Một chai thủy tinh có thể nặng gấp nhiều lần nắp, nhãn hay các cấu phần bao bì đi kèm. Vì vậy, chỉ cần sai vài chục gram trên mỗi SKU, khi nhân với hàng triệu sản phẩm, tổng khối lượng EPR có thể chênh lệch hàng chục hoặc hàng trăm tấn.

Nhưng trọng lượng không phải vấn đề duy nhất.

Một SKU thực tế có thể gồm:

thân chai thủy tinh + nắp nhôm hoặc thép + liner nhựa + nhãn giấy/nhựa + seal + hộp giấy + thùng carton bên ngoài.

Ngoài ra, ngành bia, đồ uống và một số ngành thực phẩm còn sử dụng chai thủy tinh quay vòng, được thu hồi, làm sạch và tiếp tục đóng sản phẩm.

Vì vậy, khi thực hiện EPR, doanh nghiệp không nên chỉ tạo một dòng dữ liệu:

“Bao bì = chai thủy tinh.”

Theo quy định hiện hành:

A.4.1 – Bao bì thủy tinh

Tỷ lệ tái chế bắt buộc: 15%

Fs: 1.980 đồng/kg.
Điểm xuất phát đúng nên là:

SKU nào được đưa ra thị trường → có những cấu phần bao bì nào → vật liệu gì → khối lượng bao nhiêu → cấu phần nào thuộc A.4.1 → doanh nghiệp lựa chọn hình thức thực hiện trách nhiệm nào.

EPR bao bì thủy tinh: Bao bì thủy tinh thuộc nhóm EPR nào?

Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định:

A.4.1 – Bao bì thủy tinh

có tỷ lệ tái chế bắt buộc:

15%.

Quy cách tái chế bắt buộc của nhóm này gồm:

  • xay, nghiền thành bột, hạt thủy tinh làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất khác
  • hoặc sản xuất các sản phẩm khác, kể cả sản xuất gạch không nung, bê tông, cát nhân tạo

Theo Thông tư 24/2026/TT-BNNMT:

Nội dung A.4.1 – Bao bì thủy tinh
Tỷ lệ tái chế bắt buộc 15%
Chi phí phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế 3.300 đồng/kg
Hệ số điều chỉnh 0,6
Fs 1.980 đồng/kg

Như vậy:

R hiện hành của bao bì thủy tinh A.4.1 là 15% và Fs là 1.980 đồng/kg.

Chai, lọ thủy tinh nào cần rà soát trách nhiệm EPR?

Nghị định 110 quy định trách nhiệm tái chế đối với bao bì thương phẩm, bao gồm bao bì trực tiếp và bao bì ngoài, của các nhóm sản phẩm:

  • thực phẩm
  • mỹ phẩm
  • thuốc
  • phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y
  • xà phòng, chất tẩy rửa, làm bóng và chế phẩm vệ sinh dùng trong nông nghiệp, y tế và sinh hoạt
  • xi măng

Trong thực tế, bao bì thủy tinh thường gặp ở:

  • chai đồ uống
  • chai, lọ thực phẩm
  • chai nước sốt
  • lọ gia vị
  • hũ thực phẩm
  • chai, lọ mỹ phẩm
  • chai, lọ thuốc
  • các loại bao bì thủy tinh thương phẩm khác thuộc nhóm sản phẩm được pháp luật quy định

Tuy nhiên:

Không phải mọi vật dụng bằng thủy tinh đều là bao bì A.4.1.

Doanh nghiệp cần xác định trước:

đó có phải bao bì thương phẩm của sản phẩm thuộc phạm vi trách nhiệm hay không.

Một chai thủy tinh không chỉ có thủy tinh

Đây là điểm doanh nghiệp nên xử lý ngay ở bước mapping SKU.

Ví dụ một SKU nước giải khát đóng chai có thể gồm:

Cấu phần Vật liệu thường gặp Nhóm cần rà soát
Thân chai Thủy tinh A.4.1
Nắp crown Thép/kim loại A.2.2 nếu phù hợp
Nắp vặn Nhôm A.2.1 nếu phù hợp
Liner trong nắp Polymer Rà soát cấu tạo
Nhãn Giấy hoặc nhựa Nhóm tương ứng
Màng co Nhựa mềm A.3.4 nếu phù hợp
Khay Giấy/carton A.1.1 nếu phù hợp
Thùng ngoài Carton A.1.1 nếu phù hợp

Bảng trên phục vụ mapping dữ liệu, không phải quy tắc phân nhóm tự động.

Ví dụ một chai được gọi trong ERP là:

“Glass bottle 330 ml – 220 g”

nhưng 220 g có thể chỉ là trọng lượng thân chai, trong khi SKU hoàn chỉnh còn có nắp, nhãn và bao bì ngoài.

Nếu doanh nghiệp không quản lý các cấu phần này, dữ liệu EPR có thể bị thiếu.

Nắp chai thủy tinh có được tính chung là thủy tinh không?

Không nên mặc định.

Nắp có thể làm từ:

  • nhôm
  • thép
  • PP
  • HDPE
  • hoặc cấu trúc nhiều vật liệu

Về quản trị dữ liệu, doanh nghiệp nên tách:

thân chai → nắp → liner → nhãn

trong Packaging BOM.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa pháp luật bắt buộc trong mọi trường hợp phải kê khai từng cấu phần thành một dòng riêng.

Thông tư 24 cho phép áp dụng phương pháp kê khai theo vật liệu như trình bày dưới đây.

Bao bì có nhiều vật liệu được kê khai thế nào?

Thông tư 24/2026/TT-BNNMT cho phép hai cách chính.

Cách 1: Kê khai theo vật liệu có khối lượng lớn nhất

Nhà sản xuất, nhập khẩu có thể kê khai quy cách khối lượng bao bì theo 01 loại vật liệu có khối lượng lớn nhất cấu thành bao bì.

Khối lượng kê khai là tổng khối lượng của các vật liệu cấu thành bao bì, kể cả vật liệu không được kê khai riêng.

Cách 2: Kê khai chi tiết vật liệu

Doanh nghiệp có thể kê khai chi tiết tối đa 03 loại vật liệu có khối lượng lớn nhất cấu thành bao bì.

Trường hợp gộp các vật liệu để kê khai chung thì phải kê khai theo loại vật liệu có khối lượng lớn nhất.

Ví dụ áp dụng cho chai thủy tinh

Giả sử bao bì trực tiếp của một SKU gồm:

  • thân chai thủy tinh: 300 g
  • nắp kim loại: 5 g
  • nhãn: 3 g

Tổng bao bì trực tiếp:

308 g.

Thủy tinh rõ ràng là vật liệu có khối lượng lớn nhất.

Doanh nghiệp cần căn cứ phương pháp được Thông tư 24 cho phép để lựa chọn cách kê khai phù hợp.

Điều quan trọng là:

Muốn biết vật liệu nào lớn nhất, doanh nghiệp vẫn phải mapping cấu trúc và trọng lượng trước.

Do đó, mapping SKU chi tiết và kê khai pháp lý là hai bước khác nhau.

Vì sao chai thủy tinh đặc biệt nhạy cảm với sai số khối lượng?

So với nắp nhựa hoặc nhãn, chai thủy tinh thường có trọng lượng tương đối lớn.

Giả sử doanh nghiệp có:

10 triệu chai/năm.

Nếu dữ liệu Packaging BOM lệch:

10 g/chai

thì chênh lệch khối lượng:

10.000.000 × 10 g = 100.000 kg

tức:

100 tấn.

Nếu 100 tấn đó thuộc A.4.1 thì chỉ riêng sai lệch kỹ thuật nhỏ trên mỗi chai đã có thể làm thay đổi đáng kể số liệu nghĩa vụ EPR.

Vì vậy, doanh nghiệp có sản lượng lớn nên hạn chế sử dụng một trọng lượng chuẩn cho nhiều chai “gần giống nhau”.

Nên quản lý theo:

SKU + mã packaging + supplier + revision/version + trọng lượng thực tế.

Packaging BOM cho chai, lọ thủy tinh nên gồm những gì?

Một cấu trúc dữ liệu có thể như sau:

SKU Cấu phần Vật liệu Khối lượng Nhóm EPR dự kiến
Đồ uống A Thân chai Thủy tinh 285 g A.4.1
Đồ uống A Nắp Nhôm 4 g A.2.1 nếu phù hợp
Đồ uống A Nhãn Giấy 2 g Rà soát nhóm tương ứng
Đồ uống A Màng co Nhựa mềm 5 g/6 chai A.3.4 nếu phù hợp
Đồ uống A Thùng ngoài Carton 350 g/24 chai A.1.1 nếu phù hợp
Mỹ phẩm B Lọ Thủy tinh 120 g A.4.1
Mỹ phẩm B Nắp PP 12 g A.3.2 nếu phù hợp

Các trọng lượng trên chỉ để minh họa phương pháp quản lý.

Packaging BOM thực tế cần căn cứ:

  • specification của nhà cung cấp
  • bản vẽ packaging
  • dữ liệu QA/QC
  • Procurement
  • Packaging/R&D
  • kết quả cân kiểm chứng khi cần thiết

Không nên tính EPR chỉ từ số chai đã mua

Giả sử doanh nghiệp mua:

5 triệu chai thủy tinh trong năm.

Điều đó chưa tự động đồng nghĩa cả 5 triệu chai đều là bao bì được đưa ra thị trường trong năm chịu trách nhiệm.

Nghị định 110 định nghĩa đưa ra thị trường là việc nhà sản xuất, nhập khẩu chuyển giao lần đầu sản phẩm hoặc sản phẩm đã đóng bao bì hoàn chỉnh, sẵn sàng sử dụng hoặc tiêu thụ cho tổ chức, cá nhân khác nhằm lưu thông, kinh doanh tại thị trường Việt Nam.

Do đó, số liệu EPR nên được kết nối:

Packaging BOM × số lượng SKU thực tế đưa ra thị trường.

Cách này giúp xử lý tốt hơn các trường hợp:

  • tồn kho bao bì
  • tồn kho thành phẩm
  • xuất khẩu
  • packaging lỗi
  • thay đổi trọng lượng chai
  • thay đổi nhà cung cấp
  • chuyển đổi từ chai dùng một lần sang chai quay vòng

Bao bì ngoài của chai thủy tinh có bị bỏ sót không?

Đây là một lỗi khá phổ biến.

Nghị định 110 quy định bao bì thương phẩm bao gồm cả:

  • bao bì trực tiếp

bao bì ngoài

của các nhóm sản phẩm thuộc phạm vi trách nhiệm.

Ví dụ một SKU có:

01 chai thủy tinh
→ 01 nắp kim loại
→ 01 nhãn
→ 06 chai/khay
→ 24 chai/thùng carton.

Nếu doanh nghiệp chỉ lấy gram của chai thủy tinh để xây dữ liệu EPR, phần:

  • nắp
  • nhãn
  • khay
  • carton

màng co

có thể chưa được mapping đầy đủ.

Do đó, nên nhìn theo packaging hierarchy, không chỉ theo bao bì tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm.

Chai thủy tinh quay vòng có phải thực hiện EPR không?

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng với ngành sử dụng chai returnable.

Không nên áp dụng một quy tắc đơn giản:

“Chai tái sử dụng thì không có EPR.”

Nghị định 110 quy định một trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế đối với:

nhà sản xuất đã đưa ra thị trường bao bì nhưng bao bì đó được chính nhà sản xuất đó thu hồi, đóng gói để tiếp tục đưa ra thị trường với tỷ lệ thu hồi, đóng gói bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tái chế bắt buộc.

Đối với A.4.1, tỷ lệ tái chế bắt buộc hiện hành là 15%.

Điểm cần chú ý là quy định đặt ra các yếu tố cụ thể:

  • bao bì đã được đưa ra thị trường
  • chính nhà sản xuất thu hồi
  • bao bì được đóng gói để tiếp tục đưa ra thị trường
  • tỷ lệ thu hồi, đóng gói đáp ứng điều kiện của Nghị định

Vì vậy, việc chai:

  • được người tiêu dùng tự tái sử dụng
  • được vựa phế liệu mua lại
  • được một bên thứ ba thu gom

hoặc chỉ có thiết kế “có thể tái sử dụng”

không tự động đồng nghĩa doanh nghiệp thuộc trường hợp này.

Chai quay vòng nên được quản lý dữ liệu thế nào?

Đối với hệ thống returnable bottle, doanh nghiệp nên có dữ liệu tách rõ:

chai mới đưa vào hệ thống
→ chai đưa ra thị trường
→ chai thu hồi
→ chai đủ điều kiện tái sử dụng
→ chai được làm sạch/kiểm tra
→ chai được đóng sản phẩm để tiếp tục đưa ra thị trường
→ chai loại bỏ/vỡ.

Điều này giúp doanh nghiệp tránh nhầm giữa:

reuse

recycling.

Hai khái niệm không giống nhau.

Một chai được rửa và tiếp tục đóng sản phẩm là tái sử dụng.

Một chai bị loại khỏi vòng quay, nghiền thành cullet để đưa vào sản xuất vật liệu khác là đi vào chuỗi tái chế.

Chai vỡ trong quá trình sản xuất có được dùng để hoàn thành EPR không?

Không phải mọi thủy tinh phế đều được sử dụng để đạt tỷ lệ tái chế bắt buộc.

Nghị định 110 loại trừ:

  • phế liệu nhập khẩu
  • bao bì là chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp
  • sản phẩm lỗi bị thải loại trong quá trình sản xuất

Ví dụ:

Chai thủy tinh bị vỡ hoặc loại bỏ trên dây chuyền đóng chai trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường.

Dòng thủy tinh này có thể được tái chế về mặt quản lý chất thải, nhưng không được sử dụng để đạt tỷ lệ tái chế bắt buộc trong trường hợp bị loại trừ nêu trên.

Doanh nghiệp nên tách dữ liệu:

production scrap / post-industrial

với

bao bì đã đưa ra thị trường được thu hồi để thực hiện EPR.

Có phải thu hồi đúng chai của thương hiệu mình không?

Không nhất thiết trong trường hợp tổ chức tái chế.

Nghị định 110 cho phép nhà sản xuất, nhập khẩu thực hiện tái chế:

sản phẩm, bao bì do mình sản xuất, nhập khẩu; hoặc

sản phẩm, bao bì cùng nhóm theo Phụ lục I do nhà sản xuất, nhập khẩu khác sản xuất, nhập khẩu

để đạt tỷ lệ tái chế bắt buộc, trừ các nguồn bị loại trừ.

Điều này có ý nghĩa rất lớn với thủy tinh.

Doanh nghiệp không nhất thiết phải tìm lại chính xác từng chai có logo của mình.

Nhưng cần chứng minh khối lượng:

  • thuộc đúng nhóm A.4.1
  • có nguồn hợp lệ
  • được thu gom và chuyển giao phù hợp
  • đáp ứng quy cách tái chế
  • có dữ liệu và chứng từ tương ứng

Cách tính khối lượng phải tái chế đối với bao bì thủy tinh

Giả sử doanh nghiệp xác định:

V = 500.000 kg bao bì thủy tinh A.4.1

được đưa ra thị trường và thuộc trách nhiệm tái chế.

Tỷ lệ:

R = 15%.

Khối lượng tối thiểu phải tái chế:

500.000 × 15% = 75.000 kg

tương đương:

75 tấn.

Tỷ lệ này được tính trên khối lượng bao bì thuộc trách nhiệm, không phải trọng lượng sản phẩm chứa trong chai hoặc lọ.

Nếu lựa chọn đóng góp tài chính thì tính thế nào?

Nghị định 110 quy định:

F = R × V × Fs

Trong đó:

  • F: số tiền đóng góp
  • R: tỷ lệ tái chế bắt buộc
  • V: khối lượng sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường
  • Fs: mức đóng góp tài chính trên một đơn vị khối lượng

Với A.4.1:

R = 15%

Fs = 1.980 đồng/kg.

Ví dụ:

V = 500.000 kg

thì:

F = 500.000 × 15% × 1.980

= 148.500.000 đồng.

Đây là ví dụ minh họa với giả định toàn bộ 500.000 kg được xác định thuộc A.4.1.

Doanh nghiệp có bắt buộc phải đóng góp tài chính không?

Không.

Nghị định 110 quy định nhà sản xuất, nhập khẩu lựa chọn hình thức thực hiện trách nhiệm theo quy định.

Nếu lựa chọn tổ chức tái chế, doanh nghiệp có thể:

  • tự thực hiện tái chế
  • hợp đồng với đơn vị tái chế
  • ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế – PRO
  • kết hợp các cách thức trên

Đơn vị tái chế được thuê phải có giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần có nội dung phù hợp.

Doanh nghiệp vì vậy có thể đánh giá giữa:

đóng góp tài chính

tổ chức tái chế thực tế.

Fs 1.980 đồng/kg có phải giá tái chế thủy tinh trên thị trường không?

Không.

Thông tư 24 quy định:

  • chi phí phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế A.4.1: 3.300 đồng/kg
  • hệ số điều chỉnh: 0,6
  • Fs: 1.980 đồng/kg

Fs là tham số sử dụng trong công thức đóng góp tài chính.

Nếu doanh nghiệp lựa chọn tổ chức tái chế, chi phí thực tế có thể phụ thuộc vào:

  • khoảng cách thu gom
  • tỷ trọng lớn của thủy tinh
  • tỷ lệ chai vỡ
  • phân loại màu
  • tạp chất
  • điểm tập kết
  • vận chuyển
  • xử lý
  • chứng từ
  • quản lý dữ liệu
  • quy mô chương trình

Đặc biệt, thủy tinh có trọng lượng lớn nhưng giá trị phế liệu không phải lúc nào cũng tương ứng với chi phí logistics, nên mô hình thực tế cần được tính toán riêng.

Thu gom chai thủy tinh có phải đã hoàn thành EPR?

Chưa.

Quy cách tái chế bắt buộc A.4.1 là:

  • xay, nghiền thành bột, hạt thủy tinh làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất khác
  • hoặc sản xuất sản phẩm khác, kể cả gạch không nung, bê tông và cát nhân tạo

Vì vậy:

thu gom → tập kết → phân loại

chưa phải là toàn bộ quá trình.

Doanh nghiệp cần theo được vật liệu tới kết quả tái chế đáp ứng quy cách.

Thủy tinh nghiền có được tính là tái chế không?

Đối với A.4.1, quy định khác với một số nhóm nhựa.

Nghị định 110 cho phép giải pháp xay, nghiền thành bột, hạt thủy tinh làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất khác.

Do đó, không nên áp dụng máy móc quy tắc của PET hoặc HDPE rằng “nghiền thành mảnh chưa được tính”.

Với thủy tinh, điều cần chứng minh là:

bột/hạt thủy tinh đó được tạo ra và làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất khác theo quy cách được quy định.

Đây là điểm pháp lý rất đáng lưu ý khi lựa chọn recycler.

Vì sao chain of custody vẫn cần thiết với thủy tinh?

Một dòng chai, lọ thủy tinh có thể đi qua:

hộ gia đình/điểm bán
→ người thu gom
→ vựa
→ điểm tập kết
→ vận chuyển
→ cơ sở xử lý/tái chế.

Nghị định 110 yêu cầu các hồ sơ, chứng từ:

  • thu gom
  • chuyển giao
  • tiếp nhận

xuất kho nguyên liệu đưa vào tái chế

đối với khối lượng tính vào kết quả tái chế phải được lập, quản lý và theo dõi riêng biệt với nguyên liệu tái chế khác.

Do đó, chỉ có một phiếu cân cuối cùng tại recycler có thể chưa phản ánh toàn bộ chuỗi.

Một hệ thống tốt nên cho phép đối soát:

nguồn → trọng lượng → bên giao → bên nhận → thời gian → chứng từ → khối lượng vào tái chế → kết quả.

Những lỗi thường gặp khi làm EPR bao bì thủy tinh
Lỗi 1: Lấy toàn bộ trọng lượng SKU làm thủy tinh

Nắp, liner, nhãn và bao bì ngoài có thể là vật liệu khác.

Lỗi 2: Chỉ dùng trọng lượng chai từ nhiều năm trước

Lightweighting hoặc thay đổi supplier có thể làm trọng lượng chai thay đổi.

Lỗi 3: Bỏ sót thùng carton và màng co

Bao bì ngoài cũng cần được rà soát.

Lỗi 4: Cho rằng chai quay vòng tự động được miễn EPR

Trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm có điều kiện cụ thể về việc chính nhà sản xuất thu hồi và đóng gói lại để tiếp tục đưa ra thị trường.

Lỗi 5: Lấy số chai mua vào làm ngay số chai đưa ra thị trường

Cần xử lý tồn kho, xuất khẩu và thực tế bán hàng.

Lỗi 6: Dùng chai vỡ trong nhà máy để bù nghĩa vụ

Bao bì là chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp thuộc nguồn bị loại trừ để đạt tỷ lệ tái chế bắt buộc.

Lỗi 7: Chỉ chứng minh thu gom

Cần đáp ứng quy cách tái chế A.4.1.

Lỗi 8: Áp dụng quy tắc tái chế nhựa cho thủy tinh

A.4.1 cho phép xay, nghiền thành bột/hạt thủy tinh làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất khác.

Quy trình rà soát EPR chai, lọ thủy tinh
Bước 1: Xác định đối tượng và phạm vi

Kiểm tra sản phẩm và bao bì có thuộc trách nhiệm tái chế hay không.

Bước 2: Lập danh mục SKU

Phân biệt:

  • chai dùng một lần
  • chai quay vòng
  • lọ/hũ
  • packaging nhập khẩu
  • các quy cách dung tích khác nhau

Bước 3: Xây dựng Packaging BOM

Mapping:

thân chai/lọ → nắp → liner → nhãn → seal → khay → màng co → carton.

Bước 4: Xác định trọng lượng chính xác

Quản lý theo từng mã packaging và từng revision nếu cần.

Bước 5: Xác định khối lượng đưa ra thị trường

Kết nối Packaging BOM với dữ liệu SKU thực tế đưa ra thị trường.

Bước 6: Áp dụng phương pháp kê khai

Đối với bao bì nhiều vật liệu, thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư 24.

Bước 7: Rà soát chai quay vòng riêng

Xác định:

số chai thu hồi → số chai tái sử dụng → số chai được đóng sản phẩm lại → tỷ lệ đáp ứng điều kiện.

Không trộn dữ liệu này với tái chế chai vỡ.

Bước 8: Tính nghĩa vụ

Đối với A.4.1:

Khối lượng phải tái chế = V × 15%.

Nếu lựa chọn đóng góp tài chính:

F = V × 15% × 1.980 đồng/kg.

Bước 9: Nếu tổ chức tái chế, xây dựng chain of custody

Theo dõi:

nguồn → thu gom → chuyển giao → recycler → giải pháp tái chế → kết quả → báo cáo.

GRAC hỗ trợ doanh nghiệp quản lý EPR bao bì thủy tinh như thế nào?

Với doanh nghiệp sử dụng chai, lọ thủy tinh trên quy mô lớn, bài toán EPR không chỉ là:

“Có bao nhiêu tấn chai?”

Mà phải kết nối:

SKU
→ Packaging BOM
→ chai dùng một lần/chai quay vòng
→ khối lượng đưa ra thị trường
→ nghĩa vụ A.4.1
→ nguồn thu gom
→ vận chuyển
→ recycler
→ kết quả tái chế
→ dữ liệu và chứng từ.

GRAC có thể hỗ trợ doanh nghiệp:

  • rà soát danh mục SKU
  • chuẩn hóa Packaging BOM
  • mapping thân chai, nắp, nhãn và bao bì ngoài
  • tính khối lượng bao bì đưa ra thị trường
  • rà soát dữ liệu chai quay vòng
  • tính nghĩa vụ EPR
  • xây dựng phương án thu gom
  • kết nối chuỗi tái chế phù hợp
  • quản lý giao nhận và chứng từ
  • theo dõi chain of custody
  • kiểm soát mass balance
  • tổng hợp dữ liệu phục vụ nghiệm thu và báo cáo
  • hỗ trợ tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế theo phạm vi phù hợp

Mục tiêu không chỉ là:

“đủ 15%.”

Mà phải hướng tới:

Đúng SKU – đúng khối lượng – đúng loại bao bì – đúng nguồn – đúng quy cách tái chế – đủ dữ liệu chứng minh.

CTA: Rà soát EPR chai và lọ thủy tinh của doanh nghiệp

Nếu doanh nghiệp đang sử dụng bao bì thủy tinh nhưng chưa chắc:

  • trọng lượng chai theo SKU đã chính xác
  • nắp, nhãn và liner đang được mapping thế nào
  • carton ngoài có bị bỏ sót
  • chai quay vòng có đáp ứng điều kiện theo Nghị định 110
  • chai vỡ trong nhà máy đang bị trộn với dòng EPR
  • tổng khối lượng A.4.1 đã tính đúng
  • nên tổ chức tái chế hay đóng góp tài chính
  • chuỗi thu gom hiện tại có đủ chứng từ
  • recycler đang áp dụng giải pháp phù hợp với A.4.1
  • GRAC có thể hỗ trợ rà soát Packaging BOM, mapping SKU, dữ liệu chai quay vòng, tính nghĩa vụ và xây dựng phương án thực hiện EPR phù hợp

Liên hệ GRAC để rà soát dữ liệu bao bì trước khi kê khai hoặc triển khai tái chế trên quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp về EPR bao bì thủy tinh
Bao bì thủy tinh thuộc nhóm EPR nào?

Bao bì thủy tinh thuộc A.4.1 – Bao bì thủy tinh theo Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP.

Tỷ lệ tái chế bắt buộc của bao bì thủy tinh là bao nhiêu?

Tỷ lệ tái chế bắt buộc hiện hành của A.4.1 là 15%.

Fs của chai, lọ thủy tinh là bao nhiêu?

Fs hiện hành của A.4.1 là 1.980 đồng/kg theo Thông tư 24/2026/TT-BNNMT.

Nắp chai có được tính là thủy tinh không?

Không nên mặc định. Nắp có thể là nhôm, thép, PP hoặc cấu trúc nhiều vật liệu. Doanh nghiệp nên mapping cấu phần trước khi lựa chọn phương pháp kê khai.

Có bắt buộc phải kê khai riêng nắp và nhãn không?

Không phải trong mọi trường hợp. Thông tư 24 cho phép kê khai theo một vật liệu có khối lượng lớn nhất hoặc kê khai chi tiết tối đa 03 vật liệu có khối lượng lớn nhất cấu thành bao bì.

Chai thủy tinh tái sử dụng có được miễn EPR không?

Không nên mặc định. Nghị định 110 có quy định trường hợp nhà sản xuất không phải thực hiện trách nhiệm tái chế khi chính nhà sản xuất thu hồi bao bì, đóng gói để tiếp tục đưa ra thị trường và đạt tỷ lệ theo điều kiện quy định. Doanh nghiệp phải kiểm tra và chứng minh trường hợp cụ thể.

Chai thủy tinh bị vỡ trong nhà máy có được tính vào kết quả EPR không?

Không nếu đó là bao bì trở thành chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp thuộc nguồn bị loại trừ để đạt tỷ lệ tái chế bắt buộc.

Thủy tinh nghiền thành hạt có được tính là tái chế không?

Có thể, nếu đáp ứng quy cách A.4.1: xay, nghiền thành bột/hạt thủy tinh làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất khác.

Doanh nghiệp có phải thu hồi đúng chai mang thương hiệu của mình không?

Không nhất thiết khi tổ chức tái chế. Nghị định 110 cho phép tái chế bao bì cùng nhóm do nhà sản xuất, nhập khẩu khác đưa ra thị trường, với điều kiện đáp ứng các quy định và không thuộc nguồn bị loại trừ.

Doanh nghiệp có bắt buộc phải tự tái chế chai thủy tinh không?

Không. Khi lựa chọn tổ chức tái chế, doanh nghiệp có thể tự thực hiện, hợp đồng với đơn vị tái chế, ủy quyền cho PRO hoặc kết hợp các cách thức theo quy định.

Căn cứ pháp lý

Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, đặc biệt các quy định về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất.

Nghị định số 110/2026/NĐ-CP ngày 01/04/2026 của Chính phủ, có hiệu lực từ 25/05/2026, quy định chi tiết trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP: quy định phạm vi bao bì thương phẩm, các trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế, trong đó có trường hợp bao bì do chính nhà sản xuất thu hồi và đóng gói để tiếp tục đưa ra thị trường khi đáp ứng tỷ lệ theo quy định.

Điều 5 Nghị định 110/2026/NĐ-CP: quy định tỷ lệ tái chế bắt buộc, nguồn vật liệu được sử dụng và các nguồn bị loại trừ.

Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP: A.4.1 – Bao bì thủy tinh, tỷ lệ tái chế bắt buộc 15%; quy cách tái chế gồm xay, nghiền thành bột/hạt thủy tinh làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất khác hoặc sản xuất sản phẩm khác.

Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT ngày 25/05/2026, có hiệu lực từ 25/05/2026, hướng dẫn thực hiện Nghị định 110.

Phụ lục I Thông tư 24/2026/TT-BNNMT: chi phí phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế A.4.1 là 3.300 đồng/kg, hệ số điều chỉnh 0,6, Fs 1.980 đồng/kg.

Mẫu số 01 Phụ lục II Thông tư 24/2026/TT-BNNMT: cho phép kê khai bao bì theo 01 vật liệu có khối lượng lớn nhất hoặc kê khai chi tiết tối đa 03 vật liệu có khối lượng lớn nhất; tổng khối lượng vẫn bao gồm các vật liệu cấu thành không kê khai riêng.

Nội dung bài viết cung cấp thông tin chung về EPR và không thay thế việc rà soát pháp lý, kỹ thuật đối với cấu trúc bao bì và mô hình chai quay vòng cụ thể của từng doanh nghiệp.

Văn bản tham khảo: Thông tư 24/2026/TT-BNNMT hướng dẫn thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì.


Bài viết liên quan