Công cụ miễn phí · GRAC Digital PRO

Ước tính chi phí EPR bao bì 2026

So sánh hai hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế theo Điều 54 Luật BVMT: đóng góp tài chính (Fs) vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, hoặc tổ chức tái chế qua GRAC Digital PRO.

Danh mục bao bì đưa ra thị trường

Lưu ý về nhóm bao bì. Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, nhà sản xuất, nhập khẩu lựa chọn một hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế cho toàn bộ một nhóm sản phẩm, bao bì tại Cột 2 Phụ lục I. Vì vậy A.3.3 gồm EPS cứng, PVC cứng và nhựa cứng khác là một nhóm; A.3.4 gồm bao bì đơn vật liệu mềm và đa vật liệu mềm cũng là một nhóm. Các mức Fs khác nhau trong công cụ dùng để tính số tiền đóng góp tương ứng với từng loại vật liệu theo Thông tư 24/2026/TT-BNNMT.
80%

Đây là giả định để tham khảo kịch bản, không phải quy định pháp luật. Chi phí thực tế phụ thuộc loại vật liệu, khối lượng, địa bàn thu gom, logistics và điều kiện hợp đồng. Kéo thanh trượt để thử các mức khác nhau.

Nhận tư vấn chi phí EPR

Dịch vụ tổ chức tái chế qua GRAC bao gồm: thu gom có truy xuất, hồ sơ chứng từ lập và theo dõi riêng biệt theo khoản 6 Điều 6 NĐ 110/2026, và báo cáo kết quả tái chế theo biểu mẫu Phụ lục II TT 24/2026/TT-BNNMT.

Xem bảng Rmin & Fs cho 12 loại bao bì
Nhóm bao bìRminFs (đ/kg)
A.1.1Bao bì giấy, carton20%1.900
A.1.2Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp15%6.420
A.2.1Bao bì nhôm22%2.400
A.2.2Bao bì sắt và kim loại khác20%3.600
A.3.1Bao bì PET cứng22%1.940
A.3.2Bao bì HDPE, LDPE, PP, PS cứng15%3.880
A.3.3Bao bì EPS cứng10%5.820
A.3.3Bao bì PVC cứng10%7.760
A.3.3Bao bì nhựa cứng khác10%5.820
A.3.4Bao bì đơn vật liệu mềm10%8.320
A.3.4Bao bì đa vật liệu mềm (màng ghép)10%10.700
A.4.1Bao bì thủy tinh15%1.980

Rmin (tỷ lệ tái chế bắt buộc) — Phụ lục I NĐ 110/2026/NĐ-CP · Fs (mức đóng góp tài chính) — Phụ lục I TT 24/2026/TT-BNNMT. Cả hai điều chỉnh theo chu kỳ 3 năm, lần đầu năm 2029; Rmin mỗi lần cộng thêm không quá 10%. A.3.3 và A.3.4 mỗi mã là một nhóm tại Cột 2 Phụ lục I NĐ 110 — các dòng con chỉ khác nhau về mức Fs.

Fs phải đóng = KL (tấn) × 1.000 × Rmin × Fs (đ/kg) Công thức F = R × V × Fs — khoản 1 Điều 8 NĐ 110/2026 Hạn kê khai trước 01/4 · nộp tiền Fs trước 20/4 hằng năm
Biểu phí Fs theo Phụ lục I TT 24/2026/TT-BNNMT — ổn định đến kỳ điều chỉnh 2029. So sánh dựa trên chi phí tài chính thuần; lợi ích phi tài chính (dữ liệu ESG, truy xuất chuỗi hành trình, hồ sơ chứng từ) chưa định lượng. Kết quả mang tính tham khảo sơ bộ, phụ thuộc loại bao bì, khối lượng, tỷ lệ tái chế bắt buộc và hồ sơ chứng từ hợp lệ — không thay thế ý kiến pháp lý chính thức.

Cách tính chi phí EPR bao bì 2026

Từ năm 2026, nghĩa vụ tái chế bao bì của nhà sản xuất, nhập khẩu được xác định theo một công thức duy nhất quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 110/2026/NĐ-CP. Nếu doanh nghiệp chọn hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam thay vì tổ chức tái chế, số tiền phải nộp là:

F = R × V × Fs
F — số tiền phải đóng (đồng) R — tỷ lệ tái chế bắt buộc, Phụ lục I NĐ 110/2026 V — khối lượng bao bì đưa ra thị trường (kg) Fs — mức đóng góp tài chính (đ/kg), Phụ lục I TT 24/2026

Nói bằng lời: lấy khối lượng từng loại bao bì doanh nghiệp đưa ra thị trường trong năm liền trước, nhân với tỷ lệ tái chế bắt buộc của loại đó, rồi nhân với đơn giá Fs tương ứng. Mỗi loại bao bì có cặp Rmin và Fs riêng — vì vậy hai doanh nghiệp cùng tổng khối lượng có thể chịu chi phí rất khác nhau tùy cơ cấu vật liệu. Bao bì đa vật liệu mềm (màng ghép) chịu mức Fs cao nhất bảng: 10.700 đ/kg.

Ví dụ tính tay — 50 tấn màng ghép đa lớp

Khối lượng đưa ra thị trường50 tấn (A.3.4 — đa vật liệu mềm)
Tỷ lệ tái chế bắt buộc (Rmin)10%
Khối lượng phải tái chế5 tấn
Fs phải đóng = 50.000 kg × 10% × 10.700 đ/kg53,5 triệu đ
Tổ chức tái chế qua GRAC (giả định 80% Fs)≈ 42,8 triệu đ
Chênh lệch theo giả định−10,7 triệu đ / năm

Con số 53,5 triệu đồng là số tiền theo quy định. Con số 42,8 triệu đồng là kịch bản giả định ở mức 80% Fs, không phải mức giá cam kết — chi phí thực tế phụ thuộc vật liệu, khối lượng, địa bàn thu gom và điều kiện hợp đồng.

Ba mốc thời gian doanh nghiệp cần khóa vào lịch tuân thủ hằng năm, thực hiện qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia:

Trước 01/4Kê khai số tiền Fs, hoặc đăng ký kế hoạch tái chế + báo cáo kết quả tái chế của năm liền trước (Điều 7, Điều 8 NĐ 110)
Trước 20/4Nộp đủ tiền đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (nếu chọn hình thức Fs)
Năm 2029Kỳ điều chỉnh đầu tiên của cả Rmin và Fs — chu kỳ 3 năm một lần, Rmin mỗi lần cộng thêm không quá 10%. Biểu phí hiện tại ổn định đến thời điểm đó

Chọn hình thức theo nhóm, không theo từng loại vật liệu

Đây là điểm nhiều doanh nghiệp tính sai. Nghị định 110 và Thông tư 24 chia bao bì theo hai cách khác nhau, phục vụ hai mục đích khác nhau:

Nhóm của NĐ 110 quyết định hình thức · Phân nhỏ của TT 24 quyết định Fs

Theo khoản 1 Điều 6 NĐ 110/2026/NĐ-CP, nhà sản xuất, nhập khẩu lựa chọn một hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế cho toàn bộ một nhóm sản phẩm, bao bì quy định tại Cột 2 Phụ lục I. Hai nhóm dễ nhầm nhất:

  • A.3.3 — EPS cứng, PVC cứng và nhựa cứng khác là một nhóm (cùng Rmin 10%), dù có ba mức Fs khác nhau: 5.820 · 7.760 · 5.820 đ/kg
  • A.3.4 — bao bì đơn vật liệu mềm và đa vật liệu mềm là một nhóm (cùng Rmin 10%), dù có hai mức Fs: 8.320 và 10.700 đ/kg

Nghĩa là doanh nghiệp không thể đóng Fs cho phần màng ghép rồi tổ chức tái chế riêng phần đơn vật liệu — cả nhóm A.3.4 phải theo cùng một hình thức. Việc TT 24 tách nhiều mức Fs chỉ để tính đúng số tiền cho từng loại vật liệu, không tạo ra nhóm mới.

Nếu đã chọn hình thức tổ chức tái chế cho một nhóm, doanh nghiệp được tự quyết định cách làm theo khoản 2 Điều 6: tự thực hiện tái chế, hợp đồng với đơn vị tái chế, ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế, hoặc kết hợp các cách đó.

Đóng Fs hay tổ chức tái chế?

Luật cho doanh nghiệp chọn một trong hai hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế theo Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường. Lựa chọn này không chỉ là câu hỏi chi phí — nó quyết định doanh nghiệp nhận lại được gì sau khi tiền đã chi.

Hình thức 1
Đóng góp tài chính (Fs)

Đơn giản nhất về thủ tục. Kê khai trước 01/4, nộp tiền trước 20/4 — không phải đăng ký kế hoạch, không phải báo cáo kết quả tái chế (khoản 2 Điều 7 NĐ 110). Phù hợp khi khối lượng nhỏ, danh mục bao bì phân tán.

Đổi lại: tiền nộp vào Quỹ không tạo ra bộ chứng từ truy xuất từ hoạt động tái chế do doanh nghiệp trực tiếp tổ chức. Với vật liệu khó như màng ghép, Fs là mức cao nhất bảng.

Hình thức 2
Tổ chức tái chế (R)

Có thể tối ưu chi phí và tạo dữ liệu truy xuất. Qua mạng lưới thu gom – tái chế, doanh nghiệp nhận về chuỗi chứng từ từ điểm thu gom đến nhà máy tái chế — dữ liệu dùng được cho báo cáo nội bộ, cam kết bao bì và khi cơ quan quản lý hậu kiểm.

Đổi lại: phải đăng ký kế hoạch, báo cáo kết quả, lập và theo dõi hồ sơ chứng từ riêng biệt (khoản 6 Điều 6 NĐ 110) — hoặc ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế như GRAC lo trọn gói từ thu gom đến báo cáo.

Nguyên tắc quyết định: khi nghĩa vụ lớn, doanh nghiệp nên so sánh chi phí thực tế của hình thức tổ chức tái chế với mức đóng góp Fs. Hiệu quả phụ thuộc loại vật liệu, khối lượng và năng lực chuỗi thu gom – tái chế, nên cần tính trên số liệu thật của từng danh mục thay vì áp một tỷ lệ chung. Xem chi tiết dịch vụ EPR cho doanh nghiệp của GRAC.

Được tái chế bao bì cùng nhóm của nhà sản xuất khác

Khoản 3 Điều 5 NĐ 110/2026/NĐ-CP cho phép nhà sản xuất, nhập khẩu tái chế sản phẩm, bao bì do mình đưa ra thị trường hoặc sản phẩm, bao bì cùng nhóm tại Cột 2 Phụ lục I do nhà sản xuất, nhập khẩu khác đưa ra thị trường để đạt tỷ lệ tái chế bắt buộc.

Quy định này có nghĩa khối lượng tái chế để thực hiện trách nhiệm không bắt buộc phải là chính các bao bì mang nhãn hiệu của doanh nghiệp đó; có thể sử dụng sản phẩm, bao bì cùng nhóm Cột 2 do nhà sản xuất, nhập khẩu khác đưa ra thị trường, với điều kiện đáp ứng quy cách tái chế và hồ sơ, chứng từ theo quy định. Với bao bì màng ghép — loại khó phân tách theo thương hiệu sau khi thải bỏ — quy định này tạo cơ sở pháp lý để tổ chức thu gom và tái chế theo nhóm vật liệu trên thực tế.

Ba trường hợp không được tính vào kết quả tái chế, quy định ngay tại khoản 3 Điều 5:

  • Phế liệu nhập khẩu
  • Bao bì là chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp
  • Sản phẩm lỗi bị thải loại trong quá trình sản xuất

Khối lượng dùng để thực hiện trách nhiệm phải thuộc đúng nhóm và đáp ứng điều kiện tính kết quả tái chế; không được sử dụng phế liệu nhập khẩu, bao bì là chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp hoặc sản phẩm lỗi bị thải loại trong quá trình sản xuất.

Phạm vi công cụ: chỉ áp dụng cho bao bì (nhóm A). Pin, ắc quy, dầu nhớt, săm lốp, sản phẩm điện – điện tử, phương tiện giao thông có Rmin và Fs riêng theo NĐ 110 & TT 24; một số sản phẩm thuộc trách nhiệm xử lý chất thải (Điều 55 Luật BVMT, Phụ lục II NĐ 110) chỉ có hình thức đóng tiền, không có phương án tái chế thay thế. Liên hệ GRAC để được tính riêng cho các nhóm này.

Câu hỏi thường gặp về chi phí EPR bao bì 2026

Mức Fs năm 2026 là bao nhiêu?

Fs 2026 áp dụng theo Phụ lục I Thông tư 24/2026/TT-BNNMT, dao động từ 1.900 đ/kg (bao bì giấy, carton) đến 10.700 đ/kg (bao bì đa vật liệu mềm). Một số mức thường gặp: PET cứng 1.940 đ/kg, nhôm 2.400 đ/kg, HDPE/LDPE/PP/PS cứng 3.880 đ/kg, giấy hỗn hợp đa lớp 6.420 đ/kg. Biểu phí ổn định đến kỳ điều chỉnh 2029 — xem đủ 12 loại trong bảng phía trên.

Có thể đóng Fs cho loại bao bì này và tự tổ chức tái chế loại kia không?

Chỉ được nếu chúng thuộc hai nhóm khác nhau tại Cột 2 Phụ lục I NĐ 110/2026. Theo khoản 1 Điều 6, doanh nghiệp phải chọn một hình thức thực hiện cho toàn bộ một nhóm. Ví dụ A.3.4 gồm cả bao bì đơn vật liệu mềm và đa vật liệu mềm, nên không thể đóng Fs cho phần màng ghép rồi tổ chức tái chế riêng phần đơn vật liệu. Tương tự, A.3.3 gồm EPS cứng, PVC cứng và nhựa cứng khác cũng là một nhóm. Việc Thông tư 24 quy định nhiều mức Fs khác nhau trong cùng một nhóm chỉ nhằm tính đúng số tiền cho từng loại vật liệu.

Có được tái chế bao bì của nhà sản xuất khác để đạt tỷ lệ không?

Được. Khoản 3 Điều 5 NĐ 110/2026 cho phép tái chế sản phẩm, bao bì cùng nhóm tại Cột 2 Phụ lục I do nhà sản xuất, nhập khẩu khác đưa ra thị trường để đạt tỷ lệ tái chế bắt buộc. Không tính ba trường hợp: phế liệu nhập khẩu; bao bì là chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp; sản phẩm lỗi bị thải loại trong quá trình sản xuất. Ngoài ra, nếu tái chế vượt tỷ lệ bắt buộc thì phần khối lượng chênh lệch được bảo lưu để tính vào kết quả các năm tiếp theo (khoản 4 Điều 5).

Hạn chót kê khai và nộp tiền Fs là khi nào?

Trước ngày 01/4 hằng năm: kê khai số tiền Fs (nếu chọn đóng góp tài chính) hoặc đăng ký kế hoạch tái chế và báo cáo kết quả tái chế (nếu chọn tổ chức tái chế), tính trên khối lượng bao bì đưa ra thị trường của năm liền trước. Trước ngày 20/4: nộp đủ tiền Fs vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Tất cả thực hiện qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia (Điều 7, Điều 8 NĐ 110/2026).

Đóng Fs hay tổ chức tái chế — hình thức nào lợi hơn?

Đóng Fs đơn giản nhất về thủ tục nhưng không tạo ra bộ chứng từ truy xuất từ hoạt động tái chế do doanh nghiệp trực tiếp tổ chức. Hình thức tổ chức tái chế có thể tối ưu chi phí và tạo dữ liệu truy xuất dùng cho báo cáo và hậu kiểm, nhưng đòi hỏi đăng ký kế hoạch, báo cáo kết quả và lưu chứng từ riêng biệt. Hiệu quả phụ thuộc loại vật liệu, khối lượng và năng lực chuỗi thu gom – tái chế, nên cần tính trên số liệu thật của từng danh mục thay vì áp một tỷ lệ chung.

Công cụ này có áp dụng cho pin, ắc quy, dầu nhớt, săm lốp không?

Không. Công cụ chỉ tính cho bao bì (nhóm A trong Phụ lục I). Pin, ắc quy, dầu nhớt, săm lốp, sản phẩm điện – điện tử và phương tiện giao thông có tỷ lệ tái chế bắt buộc và mức Fs riêng; một số sản phẩm thuộc trách nhiệm xử lý chất thải theo Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường và Phụ lục II NĐ 110 chỉ có hình thức đóng tiền, không có phương án tái chế thay thế. Liên hệ GRAC để được tư vấn riêng cho các nhóm sản phẩm này.