Dịch vụ, EPR platform - Truy xuất sản phẩm, EPR-PRO, Grac, Quản lý rác thải, Tái chế tái sử dụng, Thương hiệu bền vững, Tin tức

Bao bì đa lớp tính EPR thế nào?

EPR bao bì đa lớp

Bao bì đa lớp tính EPR thế nào? Câu trả lời không nằm ở số lớp nhìn thấy bên ngoài, mà phụ thuộc vào bản chất vật liệu, nhóm bao bì, khối lượng đưa ra thị trường và hình thức doanh nghiệp lựa chọn để thực hiện trách nhiệm tái chế.

Đối với bao bì nhựa mềm đa vật liệu thuộc nhóm A.3.4, tỷ lệ tái chế bắt buộc năm 2026 là 10% và mức đóng góp tài chính Fs là 10.700 đồng/kg.

Tuy nhiên, doanh nghiệp không được lấy toàn bộ khối lượng bao bì nhân trực tiếp với 10.700 đồng/kg. Công thức đầy đủ phải là:

F = R × V × Fs

Trong đó, R là tỷ lệ tái chế bắt buộc, V là khối lượng bao bì đưa ra thị trường và Fs là mức đóng góp trên một đơn vị khối lượng.

Đây là điểm khiến nhiều doanh nghiệp FMCG tính nghĩa vụ cao hơn thực tế tới 10 lần.

Tóm tắt EPR đối với bao bì đa lớp năm 2026

Nội dung Quy định áp dụng
Nhóm bao bì A.3.4 – Bao bì nhựa mềm
Bao bì đơn vật liệu mềm Fs 8.320 đồng/kg
Bao bì đa vật liệu mềm Fs 10.700 đồng/kg
Tỷ lệ tái chế bắt buộc 10%
Công thức đóng góp F = R × V × Fs
Hình thức thực hiện Tổ chức tái chế hoặc đóng góp tài chính
Thời hạn kê khai Trước ngày 01/4 hằng năm
Thời hạn nộp tiền Trước ngày 20/4 hằng năm
Căn cứ Nghị định 110/2026/NĐ-CP và Thông tư 24/2026/TT-BNNMT

1. Bao bì đa lớp có phải là bao bì đa vật liệu không?

Không phải lúc nào cũng như vậy.

“Bao bì đa lớp” là cách gọi phổ biến đối với bao bì được cấu tạo từ hai lớp trở lên. Nhưng số lớp không tự động quyết định nhóm EPR.

Điểm cần xác định là các lớp đó được làm từ cùng một loại vật liệu hay từ nhiều loại vật liệu khác nhau.

Bao bì nhiều lớp nhưng có thể là đơn vật liệu

Một bao bì có thể gồm nhiều lớp nhưng các lớp cùng thuộc một họ vật liệu, chẳng hạn:

  • PE/PE.
  • PP/PP.
  • Một số cấu trúc OPP/CPP được nhà cung cấp xác nhận phù hợp với dòng vật liệu PP.
  • Màng nhiều lớp được thiết kế theo hướng mono-material.

Những cấu trúc này có thể được xem xét theo hướng bao bì đơn vật liệu mềm nếu có hồ sơ kỹ thuật phù hợp.

Bao bì đa vật liệu mềm

Bao bì đa vật liệu mềm được cấu tạo từ nhiều vật liệu khác nhau, thường gặp như:

  • PET/PE.
  • PA/PE.
  • PET/AL/PE.
  • PET/MPET/PE.
  • Nhựa ghép giấy hoặc nhôm.
  • Màng có lớp kim loại hóa.
  • Các loại laminate gồm nhiều polymer không tương thích trong cùng một dòng tái chế.

Nhóm này thường xuất hiện trong bao bì snack, cà phê, mì gói, bánh kẹo, gia vị, thực phẩm đông lạnh, túi hút chân không, gói dầu gội và túi refill.

Doanh nghiệp không nên phân loại chỉ bằng mắt thường. Căn cứ đáng tin cậy hơn là bản thông số kỹ thuật, cấu trúc màng, định mức vật liệu và xác nhận từ nhà cung cấp bao bì.

Nghị định 110 và Thông tư 24 không quy định một ngưỡng phần trăm cố định, chẳng hạn 90% hay 95% một loại polymer, để tự động xác định bao bì là đơn vật liệu. Vì vậy, doanh nghiệp không nên tự tạo ra ngưỡng phân loại nếu không có căn cứ kỹ thuật.

So sánh bao bì đơn vật liệu mềm và đa vật liệu mềm trong EPR

Số lớp không quyết định nhóm EPR; bản chất vật liệu mới là yếu tố cần kiểm tra.

2. Không phải mọi bao bì đa lớp đều thuộc nhóm nhựa mềm A.3.4

“Bao bì đa lớp” là một tên gọi rộng. Doanh nghiệp cần phân biệt ít nhất hai trường hợp.

Bao bì nhựa mềm đa vật liệu

Các gói, túi, màng, pouch hoặc wrapper mềm có cấu trúc như PET/PE, PA/PE hoặc PET/AL/PE thường được xem xét trong nhóm:

A.3.4 – Bao bì nhựa mềm, loại bao bì đa vật liệu mềm.

Nhóm này có:

  • Tỷ lệ tái chế bắt buộc: 10%.
  • Fs: 10.700 đồng/kg.

Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp

Vỏ hộp sữa, hộp nước trái cây hoặc hộp giấy đựng đồ uống có cấu trúc giấy, nhựa và nhôm không nên gộp vào nhóm bao bì nhựa mềm.

Nhóm này thuộc:

A.1.2 – Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp.

Nhóm A.1.2 có:

  • Tỷ lệ tái chế bắt buộc: 15%.
  • Fs: 6.420 đồng/kg.

Xem hướng dẫn riêng tại: Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp trong EPR: Cách kê khai.

Nói ngắn gọn: một gói snack PET/AL/PE và một vỏ hộp sữa giấy/nhựa/nhôm đều là “đa lớp” trong cách gọi thông thường, nhưng thuộc hai nhóm EPR khác nhau.

3. Căn cứ pháp lý áp dụng từ năm 2026

Từ năm nghĩa vụ 2026, trách nhiệm tái chế bao bì được thực hiện theo:

Phụ lục I Nghị định 110 quy định nhóm A.3.4 là bao bì nhựa mềm, gồm:

  • Bao bì đơn vật liệu mềm.
  • Bao bì đa vật liệu mềm.

Cả hai loại đều có tỷ lệ tái chế bắt buộc là 10%.

Phụ lục I Thông tư 24 quy định Fs riêng:

Loại bao bì A.3.4 R bắt buộc Fs
Bao bì đơn vật liệu mềm 10% 8.320 đồng/kg
Bao bì đa vật liệu mềm 10% 10.700 đồng/kg

Mức Fs 8.486 đồng/kg và 10.914 đồng/kg là số liệu của quy định cũ, không áp dụng cho nghĩa vụ từ năm 2026.

4. Trước khi tính EPR, cần kiểm tra bao bì có thuộc phạm vi không

Một bao bì đa lớp chỉ phát sinh trách nhiệm tái chế khi đáp ứng phạm vi tại Điều 4 Nghị định 110.

Bao bì phải là bao bì thương phẩm trực tiếp hoặc bao bì ngoài của các nhóm sản phẩm như:

  • Thực phẩm, trừ kẹo cao su.
  • Mỹ phẩm.
  • Thuốc.
  • Phân bón, thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y.
  • Xà phòng, chất tẩy rửa, chất làm bóng và chế phẩm vệ sinh.
  • Xi măng.

Doanh nghiệp cũng cần kiểm tra các trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế, gồm:

  • Sản phẩm, bao bì được sản xuất hoặc nhập khẩu để xuất khẩu.
  • Tạm nhập, tái xuất.
  • Phục vụ nghiên cứu, học tập hoặc thử nghiệm.
  • Tổng doanh thu từ các sản phẩm thuộc phạm vi dưới 30 tỷ đồng/năm.
  • Bao bì được chính nhà sản xuất thu hồi và đóng gói lại để tiếp tục đưa ra thị trường với tỷ lệ đạt yêu cầu.

Xem hướng dẫn tổng thể tại: EPR bao bì 2026: Hướng dẫn đầy đủ cho doanh nghiệp FMCG.

5. Công thức tính EPR cho bao bì đa vật liệu mềm

Nếu lựa chọn đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, doanh nghiệp áp dụng công thức:

F = R × V × Fs

Trong đó:

  • F: Tổng số tiền phải đóng góp, đơn vị đồng.
  • R: Tỷ lệ tái chế bắt buộc, với bao bì nhựa mềm là 10%.
  • V: Khối lượng bao bì đưa ra thị trường Việt Nam, đơn vị kg.
  • Fs: Mức đóng góp tài chính, đơn vị đồng/kg.

Ví dụ 1: 100 tấn bao bì đa vật liệu mềm

Doanh nghiệp đưa ra thị trường 100 tấn bao bì đa vật liệu mềm:

  • V = 100.000 kg.
  • R = 10%.
  • Fs = 10.700 đồng/kg.

Số tiền phải đóng:

F = 10% × 100.000 × 10.700 = 107.000.000 đồng

Như vậy, nghĩa vụ đóng góp là 107 triệu đồng, không phải 1,07 tỷ đồng.

Nếu doanh nghiệp lựa chọn tổ chức tái chế thay vì đóng góp tài chính, khối lượng tối thiểu phải tái chế là:

100.000 kg × 10% = 10.000 kg

Tương đương 10 tấn bao bì thuộc nhóm A.3.4.

Ví dụ 2: So sánh với bao bì đơn vật liệu mềm

Với cùng 100 tấn bao bì đưa ra thị trường:

Loại bao bì Công thức Số tiền
Đơn vật liệu mềm 10% × 100.000 × 8.320 83.200.000 đồng
Đa vật liệu mềm 10% × 100.000 × 10.700 107.000.000 đồng
Chênh lệch 23.800.000 đồng

Với mỗi 100 tấn bao bì, phân loại đa vật liệu thay vì đơn vật liệu làm số tiền đóng góp tăng 23,8 triệu đồng.

Điều này không có nghĩa doanh nghiệp nên cố phân loại bao bì thành đơn vật liệu để giảm chi phí. Việc phân loại phải phản ánh đúng cấu trúc kỹ thuật và có tài liệu chứng minh.

Ví dụ 3: Doanh nghiệp có cả hai loại bao bì mềm

Giả sử doanh nghiệp đưa ra thị trường:

  • 40 tấn bao bì đơn vật liệu mềm.
  • 60 tấn bao bì đa vật liệu mềm.

Nếu lựa chọn đóng góp tài chính:

Loại bao bì Số tiền
40 tấn đơn vật liệu mềm 33.280.000 đồng
60 tấn đa vật liệu mềm 64.200.000 đồng
Tổng cộng 97.480.000 đồng

Nếu lựa chọn tổ chức tái chế, cả hai loại cùng nằm trong nhóm A.3.4. Tổng khối lượng nhóm A.3.4 là 100 tấn và khối lượng tối thiểu phải tái chế là 10 tấn.

6. Có được đóng tiền cho bao bì đa vật liệu và tái chế bao bì đơn vật liệu không?

Không, nếu cả hai đều thuộc cùng nhóm A.3.4.

Điều 6 Nghị định 110 yêu cầu nhà sản xuất, nhập khẩu lựa chọn một hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế cho từng nhóm sản phẩm, bao bì tại Cột 2 Phụ lục I.

Bao bì đơn vật liệu mềm và bao bì đa vật liệu mềm đều nằm trong nhóm A.3.4. Vì vậy, doanh nghiệp phải lựa chọn một hình thức cho toàn bộ nhóm:

  • Tổ chức tái chế; hoặc
  • Đóng góp tài chính.

Doanh nghiệp không nên chia nhóm A.3.4 thành:

  • Đóng tiền cho phần bao bì đa vật liệu mềm; và
  • Tổ chức tái chế cho phần bao bì đơn vật liệu mềm.

Tuy nhiên, doanh nghiệp được lựa chọn hình thức khác nhau giữa các nhóm khác nhau. Ví dụ, doanh nghiệp có thể tổ chức tái chế nhóm PET cứng A.3.1 nhưng đóng góp tài chính cho nhóm bao bì nhựa mềm A.3.4.

7. Có bắt buộc tái chế đúng bao bì đa lớp đã bán ra không?

Không nên hiểu theo hướng phải thu hồi và tái chế đúng từng gói snack, túi cà phê hoặc pouch đã được doanh nghiệp bán ra.

Khoản 3 Điều 5 Nghị định 110 cho phép nhà sản xuất, nhập khẩu tái chế sản phẩm, bao bì do mình đưa ra thị trường hoặc sản phẩm, bao bì cùng nhóm tại Cột 2 Phụ lục I do doanh nghiệp khác sản xuất, nhập khẩu.

Vì bao bì đơn vật liệu mềm và đa vật liệu mềm cùng thuộc nhóm A.3.4, kết quả tái chế có thể được thực hiện bằng dòng bao bì đủ điều kiện trong cùng nhóm A.3.4.

Điều này tạo ra một hướng triển khai thực tế: doanh nghiệp phát sinh nghĩa vụ từ nhiều loại bao bì nhựa mềm nhưng có thể tổ chức thu gom, tái chế dòng vật liệu A.3.4 có khả năng thu gom và tái chế phù hợp hơn.

Tuy nhiên, không phải mọi loại màng nhựa đều được tự động tính vào kết quả. Khối lượng phải:

  • Thuộc đúng nhóm A.3.4.
  • Có nguồn gốc và chứng từ phù hợp.
  • Được chuyển giao cho đơn vị tái chế đủ điều kiện.
  • Được tái chế theo đúng quy cách bắt buộc.
  • Được theo dõi riêng với những nguyên liệu tái chế khác.
  • Không bị kê khai trùng cho doanh nghiệp khác.

Các nguồn sau không được tính vào kết quả tái chế EPR:

  • Phế liệu nhập khẩu.
  • Bao bì thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp.
  • Sản phẩm lỗi bị loại trong quá trình sản xuất.

8. Bao bì đa lớp đưa đi đồng xử lý có được tính là tái chế EPR không?

Không.

Theo Phụ lục I Nghị định 110, quy cách tái chế bắt buộc đối với bao bì nhựa mềm tập trung vào:

  • Sản xuất hạt nhựa thương phẩm.
  • Sản xuất bao bì hoặc sản phẩm cụ thể từ vật liệu tái chế.

Đồng xử lý trong lò xi măng, đốt thu hồi năng lượng hoặc sử dụng làm nhiên liệu thay thế không thuộc các giải pháp tái chế bắt buộc này.

Do đó, khối lượng bao bì đa lớp được đưa đi đồng xử lý có thể được ghi nhận trong hoạt động quản lý, xử lý chất thải của doanh nghiệp nhưng không được sử dụng để hoàn thành tỷ lệ tái chế bắt buộc của nhóm A.3.4.

Nói thẳng: đồng xử lý có thể giúp xử lý dòng rác khó tái chế, nhưng không thay thế nghĩa vụ tái chế EPR.

9. Bao bì đa lớp được kê khai khối lượng như thế nào?

Mẫu số 01, Phụ lục II Thông tư 24 yêu cầu doanh nghiệp kê khai bao bì theo từng sản phẩm, quy cách đóng gói, khối lượng trên một đơn vị sản phẩm, số lượng và tổng khối lượng đưa ra thị trường.

Khối lượng trên một đơn vị sản phẩm được làm tròn đến 0,001 kg.

Đối với bao bì gồm nhiều bộ phận hoặc nhiều vật liệu, Thông tư 24 cho phép:

Cách 1: Kê khai theo vật liệu có khối lượng lớn nhất

Toàn bộ khối lượng bao bì được kê khai theo một loại vật liệu có khối lượng lớn nhất cấu thành bao bì.

Cách 2: Kê khai chi tiết

Doanh nghiệp có thể tách chi tiết nhưng tối đa không quá ba loại vật liệu có khối lượng lớn nhất.

Cách 3: Gộp một số vật liệu

Nếu gộp nhiều vật liệu để kê khai chung, phần được gộp phải kê khai theo vật liệu có khối lượng lớn nhất.

Dù lựa chọn cách nào, tổng khối lượng phải bao gồm cả những vật liệu không được tách thành một dòng riêng.

Đối với màng ghép đa lớp, doanh nghiệp không nên suy luận rằng vật liệu có khối lượng lớn nhất tự động làm toàn bộ màng ghép trở thành bao bì đơn vật liệu. Cách kê khai khối lượng và việc xác định cấu trúc đơn vật liệu hoặc đa vật liệu là hai vấn đề cần được phân tích và lưu căn cứ kỹ thuật.

10. Hồ sơ cần chuẩn bị cho từng SKU bao bì đa lớp

Doanh nghiệp nên lập một bảng dữ liệu tối thiểu với các trường sau:

  • Tên sản phẩm và mã SKU.
  • Nhãn hàng.
  • Bao bì trực tiếp hoặc bao bì ngoài.
  • Quy cách đóng gói.
  • Khối lượng bao bì trên một đơn vị sản phẩm.
  • Cấu trúc từng lớp vật liệu.
  • Tỷ lệ hoặc khối lượng từng vật liệu, nếu có.
  • Tên nhà cung cấp bao bì.
  • Bản specification hoặc tài liệu kỹ thuật.
  • Số lượng sản phẩm đưa ra thị trường Việt Nam.
  • Khối lượng hàng xuất khẩu cần loại trừ.
  • Tổng khối lượng bao bì đưa ra thị trường.
  • Phân loại đơn vật liệu mềm hoặc đa vật liệu mềm.
  • Nhóm A.3.4.
  • Hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế.
  • Căn cứ và người phê duyệt kết quả phân loại.

Nếu lựa chọn tổ chức tái chế, doanh nghiệp còn cần hồ sơ về:

  • Đơn vị thu gom.
  • Chứng từ giao nhận.
  • Khối lượng thu gom.
  • Đơn vị vận chuyển.
  • Đơn vị tái chế.
  • Giấy phép môi trường phù hợp.
  • Khối lượng tiếp nhận và đưa vào tái chế.
  • Công nghệ và sản phẩm đầu ra.
  • Biên bản nghiệm thu kết quả.
  • Kiểm soát nguy cơ kê khai trùng.

Hợp đồng hoặc hóa đơn mua phế liệu, nếu đứng riêng lẻ, chưa đủ để chứng minh kết quả tái chế EPR.

11. Những lỗi phổ biến khi tính EPR bao bì đa lớp

Gọi mọi bao bì nhiều lớp là đa vật liệu

PE/PE hoặc PP/PP có thể gồm nhiều lớp nhưng vẫn cần được xem xét theo hướng đơn vật liệu nếu có căn cứ kỹ thuật.

Gọi mọi túi nhựa là đơn vật liệu

Túi snack, cà phê, mì gói, gia vị hoặc túi hút chân không thường có cấu trúc ghép nhiều vật liệu.

Dùng Fs cũ

Fs hiện hành là 8.320 đồng/kg cho bao bì đơn vật liệu mềm và 10.700 đồng/kg cho bao bì đa vật liệu mềm.

Bỏ qua tỷ lệ R trong công thức

Công thức đúng là F = R × V × Fs, không phải V × Fs.

Đóng tiền và tái chế riêng hai loại trong cùng A.3.4

Cả bao bì đơn vật liệu mềm và đa vật liệu mềm cùng thuộc nhóm A.3.4 nên phải chọn một hình thức cho toàn nhóm.

Tính đồng xử lý là tái chế

Đồng xử lý không thuộc quy cách tái chế bắt buộc của bao bì nhựa mềm.

Dùng phế liệu sản xuất để hoàn thành nghĩa vụ

Bao bì thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp và sản phẩm lỗi không được tính vào kết quả tái chế EPR.

Không có bản thông số kỹ thuật

Tên gọi thương mại như “túi nhựa”, “pouch”, “màng ghép” hoặc “bao bì xanh” không đủ để xác định nhóm kê khai.

12. Doanh nghiệp có nên chuyển từ bao bì đa vật liệu sang đơn vật liệu?

Chuyển sang thiết kế mono-material có thể mang lại ba lợi ích:

  • Giảm mức Fs nếu lựa chọn đóng góp tài chính.
  • Tăng khả năng phù hợp với tái chế cơ học.
  • Hỗ trợ mục tiêu thiết kế bao bì tuần hoàn.

Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên thay đổi chỉ để giảm Fs mà bỏ qua chức năng bảo vệ sản phẩm.

Bao bì đa vật liệu thường được sử dụng để:

  • Cản ẩm.
  • Cản oxy.
  • Giữ mùi.
  • Cản sáng.
  • Kéo dài hạn sử dụng.
  • Đảm bảo độ bền và khả năng hàn kín.

Nếu thiết kế mới làm tăng hư hỏng hoặc lãng phí thực phẩm, lợi ích môi trường tổng thể có thể bị đảo ngược.

Quyết định thay đổi bao bì nên được đánh giá đồng thời về:

  • Khả năng bảo vệ sản phẩm.
  • Hạn sử dụng.
  • An toàn thực phẩm.
  • Khả năng thu gom thực tế.
  • Công nghệ tái chế đang có.
  • Thị trường đầu ra cho vật liệu tái chế.
  • Chi phí EPR.
  • Chi phí chuyển đổi dây chuyền và nhà cung cấp.

“Mono-material” trên catalogue không tự động đồng nghĩa với “được tái chế trong thực tế”. Khả năng tái chế còn phụ thuộc hệ thống thu gom, phân loại, quy mô và công nghệ tại thị trường Việt Nam.

13. Quy trình rà soát nhanh trong 30 ngày

Tuần 1: Chọn SKU trọng yếu

Lựa chọn 20 SKU có sản lượng hoặc khối lượng bao bì lớn nhất.

Tuần 2: Thu thập thông số kỹ thuật

Yêu cầu nhà cung cấp cung cấp cấu trúc màng, khối lượng và bản specification.

Tuần 3: Phân loại và tính nghĩa vụ

Tách đơn vật liệu mềm, đa vật liệu mềm và những nhóm bao bì khác. Tính theo công thức R × V × Fs.

Tuần 4: Lựa chọn hình thức thực hiện

So sánh giữa:

  • Số tiền đóng góp tài chính.
  • Chi phí thu gom, vận chuyển, tái chế và quản lý hồ sơ.
  • Khả năng đạt đủ khối lượng 10%.
  • Mức độ sẵn sàng của đơn vị tái chế.
  • Giá trị dữ liệu phục vụ EPR và ESG.

Doanh nghiệp có thể sử dụng công cụ tính chi phí EPR bao bì 2026 của GRAC để ước tính nhanh.

14. GRAC hỗ trợ doanh nghiệp FMCG như thế nào?

GRAC hỗ trợ doanh nghiệp xử lý bài toán bao bì đa lớp từ dữ liệu SKU đến kết quả tái chế, gồm:

  • Rà soát bao bì trực tiếp và bao bì ngoài.
  • Chuẩn hóa danh mục SKU.
  • Phân loại bao bì đơn vật liệu mềm và đa vật liệu mềm.
  • Xác định nhóm EPR và mức Fs.
  • Tính khối lượng phải tái chế hoặc số tiền đóng góp.
  • So sánh phương án thực hiện cho toàn nhóm A.3.4.
  • Tổ chức dữ liệu thu gom, chuyển giao và tái chế.
  • Kiểm tra hồ sơ, giấy phép và quy cách tái chế.
  • Kiểm soát nguy cơ kê khai trùng.
  • Chuẩn bị dữ liệu cho Mẫu số 01 và Mẫu số 02.

GRAC có thể bắt đầu bằng việc rà soát 20 SKU bao bì mềm có sản lượng cao nhất. Cách làm này giúp doanh nghiệp nhìn thấy nhanh nhóm bao bì nào tạo ra phần lớn nghĩa vụ và rủi ro EPR.

Liên hệ GRAC:

Câu hỏi thường gặp

Bao bì đa lớp có phải thực hiện EPR không?

Có, nếu đây là bao bì thương phẩm thuộc phạm vi Điều 4 Nghị định 110, được đưa ra thị trường Việt Nam và doanh nghiệp không thuộc trường hợp miễn trừ.

Bao bì đa lớp có Fs bao nhiêu?

Nếu thuộc bao bì đa vật liệu mềm A.3.4, Fs là 10.700 đồng/kg. Nếu là bao bì đơn vật liệu mềm, Fs là 8.320 đồng/kg.

Tỷ lệ tái chế bắt buộc của bao bì đa vật liệu mềm là bao nhiêu?

Tỷ lệ tái chế bắt buộc là 10%.

100 tấn bao bì đa vật liệu mềm phải đóng bao nhiêu?

Theo công thức 10% × 100.000 kg × 10.700 đồng/kg, số tiền phải đóng là 107 triệu đồng.

Bao bì nhiều lớp PE/PE có phải đa vật liệu không?

Không nhất thiết. Nếu các lớp cùng thuộc họ PE và có tài liệu kỹ thuật phù hợp, bao bì có thể được xem xét theo hướng đơn vật liệu mềm.

Bao bì snack thuộc nhóm nào?

Bao bì snack thường sử dụng màng ghép đa vật liệu, nhưng không nên kết luận bằng mắt thường. Cần kiểm tra cấu trúc màng từ nhà cung cấp.

Vỏ hộp sữa có phải nhóm A.3.4 không?

Thông thường không. Vỏ hộp sữa có nền giấy ghép nhựa, nhôm thường thuộc nhóm A.1.2 – bao bì giấy hỗn hợp đa lớp.

Có được tái chế bao bì đơn vật liệu để thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ bao bì đa vật liệu không?

Có thể thực hiện bằng bao bì cùng nhóm A.3.4 nếu đáp ứng nguồn gốc, quy cách, giấy phép và yêu cầu chứng từ. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải chọn một hình thức thực hiện cho toàn nhóm A.3.4.

Đồng xử lý bao bì đa lớp có được tính vào tỷ lệ tái chế không?

Không. Đồng xử lý không thuộc quy cách tái chế bắt buộc của nhóm bao bì nhựa mềm.

Nghĩa vụ bao bì năm 2026 kê khai khi nào?

Doanh nghiệp kê khai trước ngày 01/4/2027. Nếu lựa chọn đóng góp tài chính, số tiền phải được nộp trước ngày 20/4/2027.


Nội dung được cập nhật ngày 27/7/2026 theo Nghị định 110/2026/NĐ-CP và Thông tư 24/2026/TT-BNNMT. Bài viết cung cấp thông tin tham khảo chung; việc phân loại cần căn cứ cấu trúc kỹ thuật và hồ sơ bao bì cụ thể của từng doanh nghiệp.