Giải pháp GRAC & EPR

EPR bao bì PS cứng và EPS: R, Fs khác nhau thế nào?

EPR cho nhựa PS và EPS

EPR bao bì PS cứng và EPS không thể kê khai chung, dù hai vật liệu đều có liên hệ với polystyrene. Việc phân loại sai có thể làm doanh nghiệp áp dụng nhầm tỷ lệ tái chế (R), mức chi phí tái chế hợp lý (Fs) và kế hoạch thực hiện nghĩa vụ.

Theo quy định hiện hành, PS cứng thuộc nhóm A.3.2 với tỷ lệ tái chế 15% và Fs 3.880 đồng/kg; EPS thuộc nhóm A.3.3 với tỷ lệ 10% và Fs 5.820 đồng/kg. Bài viết dưới đây giúp doanh nghiệp phân biệt, lập BOM và kê khai đúng theo từng SKU.

EPR bao bì PS cứng và EPS: không được kê khai giống nhau

Khi rà soát danh mục vật liệu bao bì phục vụ kê khai trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất – EPR, doanh nghiệp có thể gặp các ký hiệu như PS, EPS, PET, PP, HDPE hoặc LDPE trong BOM, thông số kỹ thuật bao bì hoặc dữ liệu nhà cung cấp.

Một nhầm lẫn dễ xảy ra là coi PS cứng và EPS là cùng một nhóm EPR vì EPS về mặt kỹ thuật là Expanded Polystyrene – polystyrene dạng nở.

Tuy nhiên, pháp luật EPR hiện hành không xếp PS cứng và EPS vào cùng một nhóm bao bì.

Theo Phụ lục I Nghị định số 110/2026/NĐ-CP:

  • PS cứng được xếp cùng HDPE, LDPE và PP cứng tại nhóm A.3.2;

  • EPS được xếp tại nhóm A.3.3, cùng PVC cứng và các loại bao bì nhựa cứng khác, trừ nhựa phân hủy sinh học.

Sự khác biệt này ảnh hưởng trực tiếp đến:

  • tỷ lệ tái chế bắt buộc – R;

  • mức đóng góp tài chính trên một đơn vị khối lượng – Fs;

  • cách tính nghĩa vụ EPR;

  • nhóm vật liệu được sử dụng để thực hiện trách nhiệm tái chế;

  • dữ liệu kê khai trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia.

Đây vì vậy không chỉ là vấn đề gọi tên vật liệu, mà là vấn đề phân loại pháp lý để thực hiện đúng nghĩa vụ EPR.


1. PS cứng là gì?

Về kỹ thuật vật liệu, PS – Polystyrene là một loại nhựa nhiệt dẻo. Trong thực tế, PS có thể xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau.

Trong phạm vi bài viết này, điều cần quan tâm không phải mọi sản phẩm làm từ PS mà là loại bao bì PS cứng thuộc phạm vi EPR.

Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP xếp:

A.3.2. Bao bì HDPE, LDPE, PP, PS cứng

vào cùng một nhóm EPR.

Tỷ lệ tái chế bắt buộc của nhóm này hiện là:

R = 15%.

Theo Phụ lục I Thông tư 24/2026/TT-BNNMT, nhóm A.3.2 có:

  • chi phí phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế: 9.700 đồng/kg;

  • hệ số điều chỉnh: 0,4;

  • Fs: 3.880 đồng/kg.

Như vậy, đối với bao bì được xác định là PS cứng thuộc A.3.2, doanh nghiệp phải sử dụng đúng R và Fs của nhóm A.3.2 khi xác định nghĩa vụ.


2. EPS là gì?

Về kỹ thuật vật liệu, EPS – Expanded Polystyrene là polystyrene dạng nở, thường có cấu trúc xốp.

Điểm quan trọng đối với EPR là:

EPS không được Nghị định 110 xếp cùng PS cứng tại A.3.2.

Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định nhóm:

A.3.3. Bao bì EPS, PVC cứng và bao bì nhựa cứng khác (trừ nhựa phân hủy sinh học).

Tỷ lệ tái chế bắt buộc của nhóm A.3.3 hiện là:

R = 10%.

Trong Phụ lục I Thông tư 24/2026/TT-BNNMT, Fs được phân tách cụ thể hơn trong A.3.3. Đối với bao bì EPS cứng:

  • chi phí phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế: 9.700 đồng/kg;

  • hệ số điều chỉnh: 0,6;

  • Fs: 5.820 đồng/kg.

Do đó, doanh nghiệp không nên lấy Fs của PS cứng để áp dụng cho EPS chỉ vì hai vật liệu đều liên quan đến polystyrene.


3. Bảng so sánh EPR bao bì PS cứng và EPS

Tiêu chí PS cứng EPS
Nhóm EPR A.3.2 A.3.3
Nhóm theo NĐ 110/2026 HDPE, LDPE, PP, PS cứng EPS, PVC cứng và nhựa cứng khác
Tỷ lệ tái chế bắt buộc R 15% 10%
Chi phí cơ sở theo TT24 9.700 đ/kg 9.700 đ/kg
Hệ số điều chỉnh 0,4 0,6
Fs hiện hành 3.880 đ/kg 5.820 đ/kg
Quy cách tái chế Hạt nhựa thương phẩm hoặc bao bì/sản phẩm cụ thể Hạt nhựa thương phẩm hoặc bao bì/sản phẩm cụ thể
Mảnh nhựa là kết quả cuối đáp ứng quy cách? Không Không
Nhiên liệu đốt là kết quả cuối đáp ứng quy cách? Không Không

Nguồn: Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP và Phụ lục I Thông tư 24/2026/TT-BNNMT.

4. Tại sao PS cứng có R cao hơn nhưng Fs thấp hơn EPS?

Đây là điểm dễ gây nhầm lẫn.

Đối với PS cứng:

  • R = 15%;

  • Fs = 3.880 đồng/kg.

Đối với EPS:

  • R = 10%;

  • Fs = 5.820 đồng/kg.

Có nghĩa là tỷ lệ tái chế bắt buộc của PS cứng cao hơn EPS, nhưng Fs của EPS lại cao hơn PS cứng.

Hai chỉ số này không nên được đọc độc lập.

R là gì?

Khoản 1 Điều 5 Nghị định 110/2026/NĐ-CP xác định tỷ lệ tái chế bắt buộc là tỷ lệ khối lượng sản phẩm, bao bì tối thiểu phải được tái chế theo quy cách bắt buộc trên tổng khối lượng sản phẩm, bao bì được đưa ra thị trường trong năm có trách nhiệm.

Có thể hiểu đơn giản:

Khối lượng tối thiểu phải tái chế = V × R

Trong đó:

  • V = khối lượng bao bì đưa ra thị trường;

  • R = tỷ lệ tái chế bắt buộc.

Fs là gì?

Fs là mức đóng góp tài chính đối với một đơn vị khối lượng sản phẩm, bao bì, được Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định.

Thông tư 24/2026/TT-BNNMT hiện quy định:

  • PS cứng/A.3.2: 3.880 đồng/kg;

  • EPS: 5.820 đồng/kg.

Do đó:

Fs cao hơn không đồng nghĩa doanh nghiệp chắc chắn có tổng nghĩa vụ tài chính cao hơn.

Cần đồng thời xem R, V và Fs.


5. Ví dụ: 100 tấn PS cứng và 100 tấn EPS

Giả sử một doanh nghiệp có:

100 tấn = 100.000 kg bao bì đưa ra thị trường.

Trường hợp 1: 100 tấn bao bì PS cứng

PS cứng thuộc A.3.2:

  • V = 100.000 kg;

  • R = 15%.

Khối lượng phải tái chế:

100.000 × 15% = 15.000 kg

Tức:

15 tấn.

Nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức đóng góp tài chính để thực hiện trách nhiệm tái chế thì Điều 8 Nghị định 110 quy định:

F = R × V × Fs

Trong đó Fs của A.3.2 là 3.880 đồng/kg.

Do đó:

F = 15% × 100.000 × 3.880

= 58.200.000 đồng


Trường hợp 2: 100 tấn bao bì EPS

EPS thuộc A.3.3:

  • V = 100.000 kg;

  • R = 10%.

Khối lượng phải tái chế:

100.000 × 10% = 10.000 kg

Tức:

10 tấn.

Fs đối với EPS hiện là:

5.820 đồng/kg.

Do đó:

F = 10% × 100.000 × 5.820

= 58.200.000 đồng


Một kết quả khá thú vị

Với cùng 100 tấn bao bì:

  • PS cứng: R cao hơn nhưng Fs thấp hơn;

  • EPS: R thấp hơn nhưng Fs cao hơn;

và theo các thông số hiện hành, kết quả của công thức R × V × Fs trong ví dụ trên đều bằng:

58,2 triệu đồng.

Đây không phải vì pháp luật quy định PS và EPS có cùng nghĩa vụ.

Ngược lại, R và Fs của hai nhóm hoàn toàn khác nhau. Kết quả bằng nhau xuất phát từ sự kết hợp của R và Fs hiện hành:

15% × 3.880 = 10% × 5.820 = 582 đồng trên mỗi kg bao bì đưa ra thị trường.

Do đó, khi xây dựng dữ liệu EPR, doanh nghiệp vẫn phải phân loại đúng PS cứng và EPS.


6. Không phải mọi bao bì PS hoặc EPS đều mặc nhiên thuộc trách nhiệm tái chế EPR

Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý.

Khoản 2 Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP xác định bao bì thuộc trách nhiệm tái chế ở đây là bao bì thương phẩm, bao gồm bao bì trực tiếp và bao bì ngoài, của các nhóm sản phẩm:

  1. thực phẩm, trừ kẹo cao su;

  2. mỹ phẩm;

  3. thuốc;

  4. phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y;

  5. xà phòng, chất tẩy rửa, làm bóng và chế phẩm vệ sinh sử dụng trong nông nghiệp, y tế và sinh hoạt;

  6. xi măng.

Vì vậy, chỉ nhìn thấy một vật liệu là PS hoặc EPS chưa đủ để kết luận nghĩa vụ EPR.

Doanh nghiệp cần xác định ít nhất ba lớp:

Sản phẩm → loại bao bì → vật liệu bao bì.

Sau đó mới xác định:

nhóm EPR → R → Fs → khối lượng nghĩa vụ.


7. Doanh nghiệp nào có thể không phải thực hiện trách nhiệm tái chế?

Nghị định 110/2026/NĐ-CP cũng quy định một số trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế.

Trong đó có:

  • sản phẩm, bao bì để xuất khẩu, tạm nhập tái xuất;

  • sản xuất, nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập hoặc thử nghiệm theo quy định;

  • nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm thuộc khoản 2 Điều 4 dưới 30 tỷ đồng/năm;

  • trường hợp bao bì do chính nhà sản xuất thu hồi và đóng gói để tiếp tục đưa ra thị trường, đáp ứng điều kiện và tỷ lệ theo Nghị định.

Vì vậy, trước khi tính nghĩa vụ PS hoặc EPS, doanh nghiệp cần xác định mình có thuộc đối tượng phải thực hiện EPR hay không.


8. Cách xác định PS cứng hay EPS khi lập BOM EPR

Đây là bước thực tế quan trọng hơn việc “nhìn bằng mắt”.

Doanh nghiệp nên kiểm tra tối thiểu:

  • BOM – Bill of Materials;

  • specification của bao bì;

  • declaration hoặc technical datasheet của nhà cung cấp;

  • mã resin/material;

  • cấu tạo từng thành phần;

  • khối lượng của từng vật liệu trong một đơn vị bao bì;

  • bao bì trực tiếp hay bao bì ngoài.

Nếu hồ sơ kỹ thuật ghi:

PS – Polystyrene, rigid

thì cần xem xét phân loại vào:

A.3.2 – PS cứng.

Nếu hồ sơ ghi:

EPS – Expanded Polystyrene

thì cần xem xét phân loại vào:

A.3.3 – EPS.

Không nên chỉ dùng những mô tả thương mại như:

  • “hộp nhựa”;

  • “khay nhựa”;

  • “hộp xốp”;

  • “khay xốp”;

để quyết định mã EPR nếu không có dữ liệu vật liệu đi kèm.

Tên gọi thương mại không thay thế được dữ liệu cấu tạo vật liệu.


9. Bao bì gồm nhiều vật liệu thì kê khai PS/EPS thế nào?

Thông tư 24/2026/TT-BNNMT đã hướng dẫn cụ thể việc kê khai đối với bao bì gồm nhiều vật liệu.

Doanh nghiệp có thể kê khai theo hướng:

Cách 1 – Theo vật liệu có khối lượng lớn nhất

Kê khai quy cách khối lượng bao bì theo một loại vật liệu có khối lượng lớn nhất cấu thành bao bì.

Cách 2 – Kê khai chi tiết vật liệu

Doanh nghiệp có thể kê khai chi tiết các vật liệu cấu thành nhưng tối đa không quá ba loại vật liệu có khối lượng lớn nhất.

Điểm cần đặc biệt chú ý:

Khối lượng bao bì kê khai là tổng khối lượng các loại vật liệu cấu thành bao bì, kể cả phần vật liệu không được kê khai chi tiết.

Nếu gộp các loại vật liệu để kê khai chung thì kê khai theo loại vật liệu có khối lượng lớn nhất.

Điều này có ý nghĩa lớn đối với những SKU có:

  • thân hộp PS;

  • nắp PP;

  • nhãn hoặc màng khác;

  • phần EPS;

  • giấy hoặc thành phần phụ khác.

Doanh nghiệp không nên lấy riêng một thành phần thuận tiện nhất để tính EPR mà bỏ qua tổng khối lượng cấu thành bao bì.


10. Quy cách tái chế PS cứng và EPS có giống nhau không?

Đối với cả A.3.2 và A.3.3, Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định các giải pháp tái chế bắt buộc gồm:

  • sản xuất hạt nhựa thương phẩm; hoặc

  • sản xuất bao bì hoặc sản phẩm cụ thể.

Nghị định đồng thời loại trừ:

  • mảnh nhựa;

  • nhiên liệu đốt

khỏi kết quả cuối đáp ứng quy cách tái chế của hai nhóm này.

Điều đó có nghĩa:

Thu gom được PS/EPS chưa đồng nghĩa đã hoàn thành trách nhiệm EPR.

Băm hoặc nghiền thành mảnh cũng chưa tự động đồng nghĩa đã đạt quy cách tái chế bắt buộc.

Kết quả cuối phải đáp ứng quy cách mà Nghị định quy định.


11. Có thể dùng loại nhựa khác để thực hiện nghĩa vụ PS hoặc EPS không?

Đây là một quy định rất đáng chú ý.

Khoản 3 Điều 5 Nghị định 110/2026/NĐ-CP cho phép nhà sản xuất, nhập khẩu tái chế sản phẩm, bao bì của mình hoặc sản phẩm, bao bì cùng nhóm tại Cột 2 Phụ lục I do nhà sản xuất, nhập khẩu khác đưa ra thị trường để đạt tỷ lệ tái chế bắt buộc.

Điều này có nghĩa về nguyên tắc:

Đối với nghĩa vụ A.3.2

Nhóm bao gồm:

  • HDPE cứng;

  • LDPE cứng;

  • PP cứng;

  • PS cứng.

Việc thực hiện nghĩa vụ phải được quản lý trong phạm vi nhóm A.3.2 theo quy định.

Đối với nghĩa vụ A.3.3

Nhóm bao gồm:

  • EPS;

  • PVC cứng;

  • bao bì nhựa cứng khác, trừ nhựa phân hủy sinh học.

Việc thực hiện nghĩa vụ phải được quản lý trong phạm vi nhóm A.3.3.

Do đó, sự khác biệt giữa PS cứng và EPS còn ảnh hưởng đến pool vật liệu mà doanh nghiệp có thể tổ chức tái chế để thực hiện nghĩa vụ.

Nghị định đồng thời loại trừ một số nguồn vật liệu khỏi việc tính kết quả này, gồm:

  • phế liệu nhập khẩu;

  • bao bì là chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp;

  • sản phẩm lỗi bị thải loại trong quá trình sản xuất.


12. Doanh nghiệp có những cách nào để thực hiện nghĩa vụ tái chế?

Theo Điều 6 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, nếu lựa chọn hình thức tổ chức tái chế, nhà sản xuất, nhập khẩu có thể:

  1. tự thực hiện tái chế;

  2. ký hợp đồng với đơn vị tái chế;

  3. ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế – PRO;

  4. kết hợp các cách thức trên.

Trường hợp thuê đơn vị tái chế, đơn vị tái chế phải có giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần có nội dung phù hợp.

Trường hợp ủy quyền PRO, PRO phải nghiệm thu và xác nhận khối lượng đã được đơn vị tái chế nhận chuyển giao và tái chế.


13. Chứng từ PS và EPS cũng phải được quản lý riêng

Khoản 6 Điều 6 Nghị định 110 yêu cầu hồ sơ, chứng từ:

  • thu gom;

  • chuyển giao;

  • tiếp nhận;

  • xuất kho nguyên liệu đưa vào tái chế

đối với khối lượng dùng để tính kết quả tái chế phải được lập, quản lý và theo dõi riêng biệt với các nguyên liệu tái chế khác.

Với PS và EPS, yêu cầu này đặc biệt quan trọng bởi hai vật liệu có thể bị gọi chung trong vận hành là “nhựa PS” hoặc “xốp”.

Nếu dữ liệu đầu vào không phân biệt đúng nhóm A.3.2 và A.3.3, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn khi:

  • đối chiếu kế hoạch EPR;

  • nghiệm thu khối lượng;

  • lập báo cáo;

  • xác định R;

  • xác định Fs;

  • chứng minh kết quả tái chế.


14. Thời hạn đăng ký, kê khai EPR cần lưu ý

Đối với doanh nghiệp lựa chọn tổ chức tái chế, Điều 7 Nghị định 110 quy định trước ngày 01 tháng 4 hằng năm, nhà sản xuất, nhập khẩu:

  • đăng ký kế hoạch tái chế đối với sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường của năm liền trước;

  • báo cáo kết quả tái chế của năm liền trước

thông qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia.

Đối với doanh nghiệp lựa chọn đóng góp tài chính, Điều 8 quy định:

  • trước ngày 01 tháng 4: kê khai số tiền đóng góp;

  • trước ngày 20 tháng 4: nộp đủ tiền vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.


15. Vì sao doanh nghiệp dễ phân loại nhầm PS và EPS?

Có ít nhất năm nguyên nhân phổ biến.

1. Nhìn vào tên polymer thay vì nhóm pháp lý

EPS có chữ “PS” trong tên Expanded Polystyrene, nhưng EPR Việt Nam tách EPS khỏi PS cứng.

2. BOM chỉ ghi “PS”

Nếu BOM không phân biệt rigid PS và EPS, dữ liệu có thể chưa đủ để xác định nhóm EPR.

3. Dùng tên thương mại “hộp nhựa” hoặc “hộp xốp”

Tên gọi sản phẩm không phải mã phân loại EPR.

4. Sao chép dữ liệu EPR cũ

R, Fs và phân nhóm phải được kiểm tra theo hệ thống văn bản hiện hành áp dụng cho năm nghĩa vụ tương ứng.

5. Một SKU có nhiều loại vật liệu

Nếu không quản lý BOM theo từng thành phần, doanh nghiệp có thể phân loại toàn bộ SKU theo một vật liệu không phù hợp với phương pháp kê khai được Thông tư hướng dẫn.


16. Quy định nào áp dụng cho nghĩa vụ EPR năm 2026?

Nghị định 110/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/5/2026.

Điều khoản chuyển tiếp của Nghị định quy định:

  • trách nhiệm của các năm 2025 trở về trước tiếp tục thực hiện theo hệ thống quy định trước đó;

  • trách nhiệm của các năm từ 2026 trở về sau thực hiện theo Nghị định 110/2026/NĐ-CP.

Thông tư 24/2026/TT-BNNMT có hiệu lực kể từ ngày ký 25/5/2026 và ban hành Fs hiện hành, trong đó:

  • A.3.2 = 3.880 đồng/kg;

  • EPS = 5.820 đồng/kg.

Đây là lý do doanh nghiệp cần cẩn trọng khi tham khảo các bài viết, bảng tính hoặc tài liệu EPR được xây dựng theo mức Fs cũ.


17. Tỷ lệ tái chế và Fs có thể thay đổi trong tương lai không?

Có.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định 110 quy định tỷ lệ tái chế bắt buộc được điều chỉnh tăng theo chu kỳ 03 năm một lần, mỗi lần cộng thêm không quá 10%, với lần thay đổi đầu tiên vào năm 2029.

Điều 8 cũng quy định Fs được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành và điều chỉnh theo chu kỳ 03 năm, lần thay đổi đầu tiên bắt đầu từ 2029.

Do đó, các mức:

  • PS cứng: R 15%, Fs 3.880 đồng/kg;

  • EPS: R 10%, Fs 5.820 đồng/kg

là các mức cần sử dụng theo quy định hiện hành cho giai đoạn tương ứng, nhưng không nên được xem là cố định vĩnh viễn.


18. Doanh nghiệp nên làm gì nếu đang có nhiều SKU PS và EPS?

Một quy trình kiểm tra thực tế có thể đi theo sáu bước:

Bước 1 – Xác định sản phẩm có thuộc phạm vi bao bì EPR hay không

Kiểm tra loại sản phẩm và loại bao bì theo Điều 4 Nghị định 110.

Bước 2 – Xây dựng Packaging BOM

Với từng SKU, xác định:

  • thành phần bao bì;

  • vật liệu;

  • khối lượng từng vật liệu;

  • bao bì trực tiếp/bao bì ngoài.

Bước 3 – Xác định PS cứng hay EPS

Không gộp hai vật liệu chỉ vì cùng liên quan đến polystyrene.

Bước 4 – Map đúng nhóm EPR

  • PS cứng → A.3.2;

  • EPS → A.3.3.

Bước 5 – Áp đúng R và Fs

  • PS cứng → 15% / 3.880 đồng/kg;

  • EPS → 10% / 5.820 đồng/kg.

Bước 6 – Đối chiếu phương án thực hiện nghĩa vụ

Doanh nghiệp có thể đánh giá phương án:

  • tổ chức tái chế;

  • hoặc đóng góp tài chính;

theo quy định áp dụng và điều kiện thực tế của từng nhóm vật liệu.


19. FAQ – Câu hỏi thường gặp về EPR bao bì PS và EPS

PS và EPS có cùng một nhóm EPR không?

Không.

PS cứng thuộc A.3.2, trong khi EPS thuộc A.3.3 theo Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP.


Tỷ lệ tái chế bắt buộc của bao bì PS cứng là bao nhiêu?

Hiện tại là:

15%.

PS cứng thuộc nhóm A.3.2 cùng HDPE, LDPE và PP cứng.


Tỷ lệ tái chế bắt buộc của EPS là bao nhiêu?

Hiện tại là:

10%.

EPS thuộc A.3.3.


Fs của bao bì PS cứng năm 2026 là bao nhiêu?

Theo Thông tư 24/2026/TT-BNNMT:

3.880 đồng/kg.


Fs của EPS là bao nhiêu?

Theo Thông tư 24/2026/TT-BNNMT, đối với bao bì EPS cứng:

5.820 đồng/kg.


EPS có phải là PS không?

Về kỹ thuật vật liệu, EPS là viết tắt của Expanded Polystyrene.

Tuy nhiên, đối với phân loại EPR theo pháp luật Việt Nam, EPS và PS cứng được xếp vào hai nhóm khác nhau.

Đây mới là điểm quyết định khi xác định R và Fs.


100 tấn PS và 100 tấn EPS có nghĩa vụ tài chính bằng nhau không?

Theo R và Fs hiện hành trong ví dụ:

Có.

PS cứng:

100.000 × 15% × 3.880 = 58,2 triệu đồng.

EPS:

100.000 × 10% × 5.820 = 58,2 triệu đồng.

Tuy nhiên, hai vật liệu vẫn phải kê khai đúng nhóm vì tỷ lệ tái chế, Fs và nhóm thực hiện nghĩa vụ khác nhau.


Nghiền PS hoặc EPS thành mảnh nhựa có được tính là hoàn thành tái chế không?

Theo quy cách tái chế tại Phụ lục I Nghị định 110, đối với A.3.2 và A.3.3, kết quả được quy định là sản xuất hạt nhựa thương phẩm hoặc bao bì/sản phẩm cụ thể; mảnh nhựa không thuộc kết quả cuối được chấp nhận theo quy cách này.


Bao bì EPS dùng đựng thực phẩm có thuộc EPR không?

Cần kiểm tra đầy đủ điều kiện áp dụng.

Nghị định 110 quy định bao bì thương phẩm của thực phẩm – trừ kẹo cao su – nằm trong nhóm bao bì thuộc phạm vi trách nhiệm tái chế, nhưng doanh nghiệp còn phải xem xét đối tượng chịu trách nhiệm và các trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm theo Điều 4.


20. Kết luận: EPR bao bì PS cứng và EPS cần kê khai riêng

PS cứng và EPS không nên được gộp chung khi thực hiện EPR.

Theo quy định hiện hành:

PS cứng

A.3.2 → R 15% → Fs 3.880 đồng/kg

EPS

A.3.3 → R 10% → Fs 5.820 đồng/kg

Sai từ bước xác định vật liệu có thể kéo theo sai:

nhóm EPR → tỷ lệ tái chế → Fs → kế hoạch tái chế → kê khai → chứng từ → báo cáo kết quả.

Vì vậy, với doanh nghiệp có nhiều SKU, bước quan trọng đầu tiên không phải là nhập một con số vào công cụ tính EPR, mà là xây dựng được Packaging BOM đủ chính xác để map từng thành phần bao bì sang đúng nhóm pháp lý.


Căn cứ pháp lý

Bài viết được xây dựng trên các văn bản hiện hành:

1. Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, đặc biệt Điều 54 về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì.

2. Nghị định số 110/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 của Chính phủ, đặc biệt:

  • Điều 3 – giải thích từ ngữ;

  • Điều 4 – đối tượng, lộ trình thực hiện;

  • Điều 5 – tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc;

  • Điều 6 – hình thức thực hiện;

  • Điều 7 – đăng ký kế hoạch và báo cáo;

  • Điều 8 – công thức đóng góp tài chính;

  • Điều 23 – điều khoản chuyển tiếp;

  • Điều 24 – hiệu lực;

  • Phụ lục I – nhóm sản phẩm, bao bì, R và quy cách tái chế.

3. Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT ngày 25/5/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đặc biệt:

  • Điều 2 – Fs và biểu mẫu;

  • Phụ lục I – mức Fs;

  • Phụ lục II – hướng dẫn kê khai sản phẩm, bao bì và vật liệu cấu thành.


Lưu ý: Nội dung trên nhằm cung cấp thông tin và hỗ trợ doanh nghiệp hiểu quy định EPR. Việc xác định nghĩa vụ cụ thể cần căn cứ vào sản phẩm, bao bì, cấu tạo vật liệu, khối lượng đưa ra thị trường, doanh thu, hình thức sản xuất/nhập khẩu và hồ sơ thực tế của từng doanh nghiệp.