Dịch vụ, EPR platform - Truy xuất sản phẩm, EPR-PRO, Grac, Phân loại rác, Quản lý rác thải, Thương hiệu bền vững, Tin tức

Hệ thống thông tin EPR quốc gia: Hướng dẫn kê khai EPR 2026

Hệ thống thông tin EPR quốc gia

Hệ thống thông tin EPR quốc gia 2026: Doanh nghiệp phải kê khai gì?

Từ năm nghĩa vụ 2026, nhà sản xuất, nhập khẩu thuộc đối tượng thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất – EPR phải đăng ký, kê khai hoặc báo cáo thông qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia theo quy định mới.

Vấn đề không chỉ nằm ở việc nhập một con số tổng hợp lên hệ thống. Doanh nghiệp còn phải xác định đúng sản phẩm, bao bì thuộc phạm vi EPR; lựa chọn hình thức thực hiện; tuân thủ thời hạn và chuẩn bị hồ sơ chứng minh cho khối lượng thu gom, chuyển giao và tái chế đã kê khai.

Bài viết dưới đây giúp doanh nghiệp hiểu đúng vai trò của Hệ thống thông tin EPR quốc gia và những công việc cần chuẩn bị trước mỗi kỳ kê khai.

Lưu ý pháp lý: Theo khoản 1 Điều 23 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, trách nhiệm EPR của các năm từ 2025 trở về trước tiếp tục được thực hiện theo quy định trước đây. Trách nhiệm của các năm từ 2026 trở về sau được thực hiện theo Nghị định số 110/2026/NĐ-CP.

Hệ thống thông tin EPR quốc gia là gì?

Theo khoản 7 Điều 3 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, Hệ thống thông tin EPR quốc gia là hệ thống thông tin nghiệp vụ chuyên môn về:

  • Trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì;
  • Trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải;
  • Việc đăng ký, báo cáo và kê khai của các tổ chức, cá nhân có liên quan;
  • Công tác quản lý, giám sát và hỗ trợ hoạt động tái chế, xử lý chất thải.

Như vậy, đây không chỉ là một website cung cấp thông tin về EPR. Hệ thống còn là công cụ chính thức để doanh nghiệp thực hiện các thủ tục EPR và để cơ quan nhà nước quản lý, giám sát việc thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Doanh nghiệp có thể truy cập Cổng EPR quốc gia, sau đó sử dụng chức năng đăng ký tài khoản, kê khai và báo cáo EPR theo hướng dẫn trên hệ thống.

Căn cứ pháp lý về Hệ thống thông tin EPR quốc gia

Doanh nghiệp cần đối chiếu ba nhóm văn bản pháp luật chính sau đây.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020

Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, đã được sửa đổi, bổ sung, quy định trách nhiệm tái chế đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế.

Nhà sản xuất, nhập khẩu được lựa chọn một trong hai hình thức:

  1. Tổ chức tái chế sản phẩm, bao bì; hoặc
  2. Đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ tái chế.

Trường hợp lựa chọn tổ chức tái chế, doanh nghiệp phải đăng ký kế hoạch và báo cáo kết quả tái chế hằng năm.

Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường quy định trách nhiệm đóng góp tài chính đối với sản phẩm, bao bì chứa chất độc hại, khó có khả năng tái chế hoặc gây khó khăn cho việc thu gom, xử lý.

GRAC được đăng tải công khai trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia với vai trò đơn vị nhận ủy quyền tái chế sản phẩm, bao bì.

GRAC được đăng tải công khai trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia trong danh sách đơn vị nhận ủy quyền tái chế sản phẩm, bao bì.

Nghị định số 110/2026/NĐ-CP

Nghị định số 110/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 1/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 25/5/2026.

Nghị định quy định chi tiết:

  • Đối tượng thực hiện EPR;
  • Danh mục sản phẩm, bao bì;
  • Tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc;
  • Các hình thức tổ chức tái chế;
  • Thời hạn đăng ký, kê khai, báo cáo và nộp tiền;
  • Yêu cầu đối với hồ sơ, chứng từ;
  • Quản lý và vận hành Hệ thống thông tin EPR quốc gia.

Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT

Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT được Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành và có hiệu lực từ ngày 25/5/2026.

Thông tư quy định chi tiết:

  • Mức đóng góp tài chính Fs;
  • Biểu mẫu đăng ký, kê khai và báo cáo EPR;
  • Hồ sơ hỗ trợ hoạt động tái chế;
  • Một số nội dung quản lý, sử dụng nguồn tài chính EPR;
  • Trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành Hệ thống thông tin EPR quốc gia.

Doanh nghiệp sử dụng Hệ thống EPR để làm gì?

Tùy theo hình thức thực hiện trách nhiệm, nhà sản xuất, nhập khẩu sẽ sử dụng hệ thống cho những công việc khác nhau.

Đăng ký kế hoạch tái chế

Nội dung này áp dụng đối với nhà sản xuất, nhập khẩu lựa chọn hình thức tổ chức tái chế thay vì đóng toàn bộ tiền vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.

Kế hoạch cần thể hiện các nội dung như:

  • Nhóm sản phẩm, bao bì;
  • Khối lượng đưa ra thị trường;
  • Tỷ lệ tái chế bắt buộc;
  • Khối lượng phải tái chế;
  • Hình thức thực hiện;
  • PRO hoặc đơn vị tái chế có liên quan.

Báo cáo kết quả tái chế

Doanh nghiệp lựa chọn tổ chức tái chế phải báo cáo kết quả thực hiện của năm liền trước.

Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, nhà sản xuất, nhập khẩu phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin đăng ký và báo cáo trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia.

Kê khai tiền đóng góp hỗ trợ tái chế

Doanh nghiệp lựa chọn đóng góp tài chính thay cho việc tổ chức tái chế phải kê khai số tiền theo công thức tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP:

F = R × V × Fs

Trong đó:

  • F: Tổng số tiền phải đóng góp đối với từng sản phẩm, bao bì;
  • R: Tỷ lệ tái chế bắt buộc;
  • V: Khối lượng sản phẩm, bao bì được đưa ra thị trường trong năm có trách nhiệm;
  • Fs: Mức đóng góp tài chính đối với một đơn vị khối lượng sản phẩm, bao bì.

Kê khai tiền đóng góp hỗ trợ xử lý chất thải

Nội dung này áp dụng đối với sản phẩm, bao bì thuộc danh mục phải đóng góp tài chính hỗ trợ hoạt động xử lý chất thải theo Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường và Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 110/2026/NĐ-CP.


Các thời hạn EPR quan trọng

Doanh nghiệp cần phân biệt giữa thời hạn đăng ký, kê khai, báo cáo và thời hạn nộp tiền.

Nội dung Thời hạn
Đăng ký kế hoạch tái chế Trước ngày 1/4 hằng năm
Báo cáo kết quả tái chế Trước ngày 1/4 hằng năm
Kê khai tiền đóng góp hỗ trợ tái chế Trước ngày 1/4 hằng năm
Nộp tiền đóng góp hỗ trợ tái chế Trước ngày 20/4 hằng năm
Kê khai tiền hỗ trợ xử lý chất thải Trước ngày 1/4 hằng năm
Nộp tiền hỗ trợ xử lý chất thải Trước ngày 20/4 hằng năm

Căn cứ cụ thể:

  • Khoản 1 Điều 7: Đăng ký kế hoạch và báo cáo kết quả tái chế trước ngày 1/4;
  • Điểm a khoản 3 Điều 8: Kê khai tiền đóng góp hỗ trợ tái chế trước ngày 1/4;
  • Điểm b khoản 3 Điều 8: Nộp tiền đóng góp hỗ trợ tái chế trước ngày 20/4;
  • Khoản 1 Điều 10: Kê khai tiền hỗ trợ xử lý chất thải trước ngày 1/4;
  • Khoản 2 Điều 10: Nộp tiền hỗ trợ xử lý chất thải trước ngày 20/4.

Cần lưu ý, câu chữ của Nghị định là “trước ngày 1 tháng 4”“trước ngày 20 tháng 4”. Doanh nghiệp không nên hiểu thành hạn cuối là hết ngày 1/4 hoặc hết ngày 20/4.

Khuyến nghị của GRAC: Không nên chờ đến tháng 3 mới bắt đầu tổng hợp số liệu. Dữ liệu EPR thường liên quan đến bộ phận tài chính, xuất nhập khẩu, sản xuất, pháp chế, môi trường, mua hàng và chuỗi cung ứng.


Doanh nghiệp phải sử dụng những biểu mẫu nào?

Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT, doanh nghiệp sử dụng ba biểu mẫu chính.

Mẫu số 01

Bản đăng ký, kê khai thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Mẫu số 02

Báo cáo kết quả tái chế sản phẩm, bao bì của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Mẫu số 03

Bản kê khai số tiền đóng góp hỗ trợ hoạt động xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Các biểu mẫu này được ban hành tại Phụ lục II kèm theo Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT.

Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm từ năm 2026 trở về sau cần sử dụng biểu mẫu hiện hành, không tiếp tục sử dụng biểu mẫu cũ theo cơ chế trước Nghị định số 110/2026/NĐ-CP.


Bao bì nào thuộc trách nhiệm tái chế?

Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, bao bì thuộc trách nhiệm tái chế là bao bì thương phẩm, bao gồm bao bì trực tiếp và bao bì ngoài của các nhóm sản phẩm, hàng hóa sau:

  • Thực phẩm, trừ kẹo cao su;
  • Mỹ phẩm;
  • Thuốc;
  • Phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y;
  • Xà phòng, chất tẩy rửa, chất làm bóng và chế phẩm vệ sinh dùng trong nông nghiệp, y tế và hoạt động sinh hoạt;
  • Xi măng.

Không phải mọi loại bao bì được sử dụng trong hoạt động của doanh nghiệp đều mặc nhiên là bao bì thương phẩm thuộc EPR.

Doanh nghiệp cần làm rõ bao bì đang xét có phải là bao bì trực tiếp hoặc bao bì ngoài của sản phẩm được đưa ra thị trường hay chỉ là bao bì phục vụ vận chuyển, lưu kho hoặc vận hành nội bộ.

Doanh nghiệp dưới 30 tỷ đồng có được miễn EPR không?

Không nên hiểu rằng mọi doanh nghiệp có doanh thu dưới 30 tỷ đồng đều được miễn toàn bộ nghĩa vụ EPR.

Theo điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm quy định tại khoản 2 Điều 4 dưới 30 tỷ đồng/năm không phải thực hiện trách nhiệm tái chế.

Điều này có nghĩa là cần xác định doanh thu từ đúng nhóm sản phẩm liên quan, không mặc nhiên lấy hoặc loại trừ theo toàn bộ doanh thu của doanh nghiệp mà không phân tích cơ cấu sản phẩm.

Ngoài ra, doanh nghiệp cần phân biệt:

  • Trách nhiệm tái chế theo Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường;
  • Trách nhiệm đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải theo Điều 55;
  • Sản phẩm thuộc Phụ lục I;
  • Sản phẩm thuộc Phụ lục II;
  • Các trường hợp xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, nghiên cứu, học tập hoặc thử nghiệm.

Một con số 30 tỷ đồng không phải là “tấm vé miễn EPR” cho mọi loại sản phẩm.

Có thể ủy quyền cho PRO thực hiện EPR không?

Có.

Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, nhà sản xuất, nhập khẩu lựa chọn hình thức tổ chức tái chế có thể thực hiện bằng một hoặc nhiều cách sau:

  • Tự thực hiện tái chế;
  • Sử dụng sản phẩm, bao bì thải bỏ làm nguyên liệu để sản xuất;
  • Ký hợp đồng với đơn vị tái chế;
  • Ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế – PRO;
  • Kết hợp các cách thức trên.

Theo khoản 5 Điều 6, PRO được ủy quyền phải nghiệm thu và xác nhận khối lượng sản phẩm, bao bì đã được đơn vị tái chế tiếp nhận và tái chế.

PRO đã nhận ủy quyền không được tiếp tục ủy quyền lại cho một PRO khác.

Tuy nhiên, ủy quyền cho PRO không có nghĩa là nhà sản xuất, nhập khẩu được miễn trách nhiệm đối với số liệu kê khai.

Doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin đăng ký và báo cáo.

Trước khi lựa chọn PRO, doanh nghiệp nên đánh giá:

  • Tư cách pháp lý và phạm vi hoạt động;
  • Năng lực vận hành và quản lý dữ liệu;
  • Mạng lưới đơn vị thu gom, tái chế;
  • Cơ chế nghiệm thu khối lượng;
  • Khả năng truy xuất chứng từ;
  • Cơ chế phòng ngừa kê khai trùng;
  • Trách nhiệm xử lý khi số liệu bị điều chỉnh hoặc không được chấp nhận.

Doanh nghiệp phải chuẩn bị dữ liệu và hồ sơ gì?

Việc thực hiện EPR không chỉ là khai một con số tổng khối lượng.

Doanh nghiệp cần xây dựng được chuỗi dữ liệu đủ để giải thích và chứng minh kết quả đã kê khai.

Dữ liệu về sản phẩm, bao bì

Doanh nghiệp cần xác định:

  • Danh mục sản phẩm được đưa ra thị trường;
  • Loại và cấu tạo bao bì;
  • Nhóm vật liệu;
  • Mã nhóm theo Phụ lục I;
  • Khối lượng sản xuất, nhập khẩu;
  • Khối lượng thực tế đưa ra thị trường Việt Nam;
  • Khối lượng xuất khẩu, tạm nhập tái xuất;
  • Tỷ lệ tái chế bắt buộc;
  • Khối lượng phải thực hiện trách nhiệm.

Dữ liệu về tổ chức thực hiện

Doanh nghiệp cần quản lý thông tin về:

  • Đơn vị thu gom;
  • Điểm tập kết;
  • Đơn vị vận chuyển;
  • Đơn vị tái chế;
  • PRO được ủy quyền;
  • Hợp đồng và phạm vi trách nhiệm của từng bên.

Hồ sơ chứng minh dòng vật chất

Hồ sơ thực tế thường bao gồm:

  • Hợp đồng thu gom, vận chuyển và tái chế;
  • Biên bản giao nhận;
  • Phiếu cân;
  • Phiếu nhập kho, xuất kho;
  • Hóa đơn và chứng từ thanh toán;
  • Xác nhận tiếp nhận của đơn vị tái chế;
  • Hồ sơ nghiệm thu;
  • Báo cáo đầu ra sau tái chế;
  • Bảng đối soát khối lượng theo từng lô.

Quy định pháp luật: Theo khoản 6 Điều 6 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, hồ sơ, chứng từ thu gom, chuyển giao, tiếp nhận và xuất kho nguyên liệu dùng để tính kết quả tái chế EPR phải được lập, quản lý và theo dõi riêng biệt với các nguồn nguyên liệu tái chế khác.

Quy định này có nghĩa là tổng công suất hoặc tổng sản lượng của một nhà tái chế không mặc nhiên được xem là kết quả EPR của một doanh nghiệp.

Khối lượng kê khai phải gắn với hồ sơ và dòng vật chất tương ứng.

Hệ thống EPR có tự động lấy dữ liệu hải quan không?

Theo khoản 1 Điều 19 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, Hệ thống thông tin EPR quốc gia được kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan để bảo đảm việc đăng ký, kê khai và báo cáo.

Tuy nhiên, Nghị định quy định rõ:

Phạm vi kết nối của Hệ thống thông tin EPR quốc gia không bao gồm Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Do đó, doanh nghiệp không nên hiểu rằng đã hoàn thành thủ tục hải quan thì mặc nhiên đã hoàn thành kê khai EPR.

Khai báo hải quan và kê khai EPR là các thủ tục có mục đích khác nhau. Nhà sản xuất, nhập khẩu vẫn phải thực hiện đăng ký, kê khai hoặc báo cáo trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia theo đúng thời hạn.

Theo khoản 4 Điều 21, cơ quan quản lý thuế, hải quan và cơ quan có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin theo đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Môi trường để phục vụ công tác quản lý, giám sát EPR.

Nói cách khác, dữ liệu có thể được sử dụng để đối chiếu, nhưng doanh nghiệp vẫn có trách nhiệm chủ động kê khai chính xác.

Năm hiểu nhầm thường gặp về Hệ thống thông tin EPR quốc gia

Hiểu nhầm 1: Đây chỉ là trang cung cấp thông tin

Không đúng.

Hệ thống là công cụ nghiệp vụ phục vụ đăng ký, kê khai, báo cáo, quản lý và giám sát EPR.

Hiểu nhầm 2: Đã khai hải quan thì không cần kê khai EPR

Không đúng.

Hệ thống thông tin EPR quốc gia không bao gồm việc kết nối với Cổng thông tin một cửa quốc gia theo khoản 1 Điều 19 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP.

Hiểu nhầm 3: Ủy quyền cho PRO thì doanh nghiệp không còn trách nhiệm

Không chính xác.

Nhà sản xuất, nhập khẩu vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin đăng ký và báo cáo.

Hiểu nhầm 4: Chỉ cần chứng minh tổng số tấn đã tái chế

Chưa đủ.

Khối lượng phải gắn với hồ sơ thu gom, chuyển giao, tiếp nhận, xuất kho, nghiệm thu và kết quả tái chế tương ứng.

Hiểu nhầm 5: Mọi doanh nghiệp dưới 30 tỷ đồng đều được miễn EPR

Không đúng.

Ngưỡng doanh thu phải được đối chiếu với đúng nhóm sản phẩm và đúng loại trách nhiệm pháp lý.

Checklist thực hiện EPR dành cho doanh nghiệp

Trước mỗi kỳ đăng ký, kê khai và báo cáo EPR, doanh nghiệp nên hoàn thành tối thiểu tám bước:

  1. Rà soát toàn bộ sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường Việt Nam;
  2. Phân loại theo đúng Phụ lục I và Phụ lục II;
  3. Xác định khối lượng thực tế của năm có trách nhiệm;
  4. Kiểm tra các trường hợp không phải thực hiện;
  5. Lựa chọn hình thức tổ chức tái chế hoặc đóng góp tài chính;
  6. Kiểm tra năng lực pháp lý của PRO và đơn vị tái chế;
  7. Đối soát chứng từ và dòng vật chất;
  8. Hoàn thành thủ tục trước thời hạn pháp luật.

Khuyến nghị của GRAC: Dữ liệu EPR nên được xây dựng ngay trong năm phát sinh nghĩa vụ thay vì tổng hợp hồi cứu vào cuối kỳ. Dữ liệu càng được ghi nhận muộn, rủi ro thiếu chứng từ, sai lệch và kê khai trùng càng cao.

Hệ thống thông tin EPR quốc gia có thay thế hệ thống truy xuất của doanh nghiệp không?

Không.

Hệ thống thông tin EPR quốc gia là nơi tiếp nhận đăng ký, kê khai, báo cáo và phục vụ công tác quản lý nhà nước.

Trong khi đó, doanh nghiệp vẫn cần một quy trình hoặc nền tảng nội bộ để:

  • Ghi nhận khối lượng tại điểm thu gom;
  • Theo dõi từng lần cân và giao nhận;
  • Quản lý dữ liệu vận chuyển và kho;
  • Đối chiếu giữa đơn vị thu gom, PRO và đơn vị tái chế;
  • Ngăn ngừa kê khai trùng khối lượng;
  • Lưu trữ hồ sơ phục vụ kiểm tra;
  • Tổng hợp dữ liệu theo các biểu mẫu EPR.

Có thể hiểu đơn giản:

Hệ thống EPR quốc gia là nơi doanh nghiệp nộp dữ liệu. Chất lượng tuân thủ lại phụ thuộc vào cách dữ liệu đó được tạo ra, kiểm soát và chứng minh trước khi được nộp.

GRAC hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện EPR như thế nào?

GRAC hỗ trợ nhà sản xuất, nhập khẩu, PRO và đơn vị tái chế xây dựng chuỗi dữ liệu phục vụ thực hiện EPR, bao gồm:

  • Rà soát đối tượng và nhóm sản phẩm, bao bì;
  • Xác định sơ bộ nghĩa vụ và phương án thực hiện;
  • Xây dựng kế hoạch thu gom, tái chế;
  • Kết nối đơn vị thu gom và tái chế;
  • Số hóa phiếu cân, giao nhận và chứng từ;
  • Theo dõi khối lượng theo từng lô;
  • Đối soát dòng vật chất;
  • Hạn chế rủi ro kê khai trùng;
  • Chuẩn hóa dữ liệu phục vụ đăng ký và báo cáo;
  • Xây dựng hồ sơ có khả năng kiểm tra và truy xuất.

Doanh nghiệp cần rà soát nghĩa vụ hoặc chuẩn hóa dữ liệu EPR năm 2026?

Đăng ký tư vấn EPR cùng GRAC.

EPR Compliance với biểu tượng tái chế, bao bì tái chế và báo cáo bền vững

Giải pháp EPR Compliance giúp doanh nghiệp tuân thủ, minh bạch và bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống thông tin EPR quốc gia được truy cập ở đâu?

Doanh nghiệp có thể truy cập Cổng EPR quốc gia, đăng ký tài khoản và sử dụng hệ thống đăng ký, kê khai, báo cáo EPR theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Thời hạn đăng ký và báo cáo kết quả tái chế là ngày nào?

Nhà sản xuất, nhập khẩu lựa chọn tổ chức tái chế phải hoàn thành đăng ký kế hoạch và báo cáo kết quả tái chế trước ngày 1/4 hằng năm.

Thời hạn nộp tiền đóng góp EPR là ngày nào?

Tiền đóng góp hỗ trợ hoạt động tái chế hoặc xử lý chất thải phải được nộp trước ngày 20/4 hằng năm.

Đóng tiền vào Quỹ có phải báo cáo kết quả tái chế không?

Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp lựa chọn đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam không phải đăng ký kế hoạch và báo cáo kết quả tái chế theo khoản 1 Điều 7.

Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải kê khai và nộp tiền theo Điều 8.

Có thể ủy quyền cho PRO tổ chức tái chế không?

Có.

Nhà sản xuất, nhập khẩu có thể ủy quyền cho PRO theo Điều 6 Nghị định số 110/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin đăng ký và báo cáo.

Hệ thống EPR có thay thế hồ sơ nội bộ của doanh nghiệp không?

Không.

Doanh nghiệp vẫn phải quản lý hồ sơ, chứng từ và dữ liệu đủ để chứng minh nguồn gốc, quá trình giao nhận và kết quả tái chế của khối lượng đã kê khai.

Kết luận

Hệ thống thông tin EPR quốc gia đánh dấu việc quản lý EPR chuyển mạnh từ kê khai hành chính đơn lẻ sang quản lý dựa trên dữ liệu.

Doanh nghiệp không chỉ cần trả lời:

Đã tái chế bao nhiêu tấn?

Mà còn phải chứng minh:

Khối lượng đó đến từ đâu, được ai thu gom, chuyển giao cho đơn vị nào, tái chế bằng giải pháp gì và được xác nhận bằng những chứng từ nào?

EPR vì thế không dừng ở một khoản chi phí tuân thủ. Đó là trách nhiệm đối với toàn bộ hành trình của sản phẩm, từ khi được đưa ra thị trường cho đến khi vật liệu được thu hồi và bước vào một vòng đời mới.

Nguồn pháp lý tham khảo

  1. Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, đã được sửa đổi, bổ sung;
  2. Nghị định số 110/2026/NĐ-CP ngày 1/4/2026 của Chính phủ;
  3. Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT ngày 25/5/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
  4. Hệ thống thông tin EPR quốc gia.

Lưu ý: Bài viết cung cấp thông tin pháp lý chung tại thời điểm cập nhật. Nghĩa vụ cụ thể của từng doanh nghiệp cần được xác định dựa trên sản phẩm, bao bì, doanh thu, khối lượng đưa ra thị trường và mô hình hoạt động thực tế.