EPR cho ắc quy: Tỷ lệ tái chế, Fs và chứng từ cần chuẩn bị
EPR cho ắc quy: Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để tuân thủ đúng quy định?
EPR cho ắc quy là trách nhiệm tái chế bắt buộc đối với ắc quy chì và ắc quy khác ắc quy chì. Tìm hiểu tỷ lệ tái chế, Fs, cách tính nghĩa vụ và giải pháp chứng từ EPR cùng GRAC.
EPR cho ắc quy là gì?
EPR cho ắc quy là trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu đối với sản phẩm ắc quy sau khi được đưa ra thị trường. Trong hệ thống EPR tại Việt Nam, ắc quy thuộc nhóm sản phẩm phải thực hiện trách nhiệm tái chế, không phải nhóm đóng góp tài chính để hỗ trợ xử lý chất thải.
Điểm này cần nói rõ ngay từ đầu. Với ắc quy, doanh nghiệp không nên dùng cách gọi chung chung như “xử lý ắc quy theo EPR”. Cách gọi đúng hơn là trách nhiệm tái chế ắc quy theo EPR.
Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định EPR bao gồm trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu. Đây là hai nhóm nghĩa vụ khác nhau, cần phân biệt ngay từ bước tư vấn và kê khai.
Vì sao ắc quy là nhóm sản phẩm cần quản lý chặt?
Ắc quy là sản phẩm có giá trị tái chế, nhưng cũng có rủi ro môi trường cao nếu thu gom, lưu giữ, vận chuyển và tái chế không đúng quy định. Trong thực tế, ắc quy sau sử dụng có thể đi qua nhiều tầng trung gian: người tiêu dùng, cửa hàng sửa xe, garage, đại lý, điểm thu mua, kho tập kết, đơn vị thu gom và nhà máy tái chế.
Vấn đề nằm ở chỗ: dòng vật liệu có thể tồn tại ngoài thị trường, nhưng dòng chứng từ lại rất dễ đứt gãy.
Với EPR, doanh nghiệp không chỉ cần chứng minh rằng “ắc quy đã được thu gom”. Doanh nghiệp cần chứng minh sâu hơn: ắc quy thuộc nhóm nào, khối lượng bao nhiêu, được chuyển giao cho ai, đơn vị tái chế có đủ điều kiện hay không, tái chế theo quy cách nào và hồ sơ có đủ để giải trình khi cần hay không.
Nói ngắn gọn: có đầu ra phế liệu chưa đủ; phải có bằng chứng tái chế đúng quy định.
Những loại ắc quy nào thuộc trách nhiệm tái chế?
Theo Phụ lục I của Nghị định 110/2026/NĐ-CP, nhóm ắc quy được tách thành hai nhóm chính: ắc quy chì và ắc quy các loại khác ắc quy chì.
Đối với ắc quy chì, tỷ lệ tái chế bắt buộc là 12%. Quy cách tái chế bắt buộc gồm tháo dỡ, phân loại, thu hồi vật liệu nhựa và sản xuất phôi chì.
Đối với ắc quy các loại khác ắc quy chì, tỷ lệ tái chế bắt buộc là 8%. Quy cách tái chế bắt buộc gồm tháo dỡ, phân loại, thu hồi vật liệu nhựa và lithium hoặc kim loại khác.
Đây là điểm doanh nghiệp rất dễ nhầm. Không thể gom tất cả vào một nhóm “ắc quy” rồi tính chung. Ắc quy chì và ắc quy khác ắc quy chì có tỷ lệ tái chế khác nhau, quy cách tái chế khác nhau và mức Fs khác nhau.
Fs cho ắc quy là bao nhiêu?
Theo Thông tư 24/2026/TT-BNNMT, mức Fs của ắc quy chì là 17.920 đồng/kg. Mức Fs của ắc quy các loại khác ắc quy chì là 49.800 đồng/kg.
Sự chênh lệch này khá lớn. Vì vậy, nếu doanh nghiệp phân loại sai nhóm ắc quy, kết quả tính nghĩa vụ tài chính có thể sai đáng kể. Với doanh nghiệp có sản lượng lớn, sai một nhóm sản phẩm có thể kéo theo sai ngân sách, sai hồ sơ và sai phương án thực hiện.
Công thức tính khoản đóng góp tài chính để hỗ trợ hoạt động tái chế được xác định là:
F = R × V × Fs
Trong đó, F là tổng số tiền phải đóng góp; R là tỷ lệ tái chế bắt buộc; V là khối lượng sản phẩm đưa ra thị trường trong năm có trách nhiệm tái chế; Fs là mức đóng góp tài chính trên một đơn vị khối lượng sản phẩm.
Ví dụ, nếu doanh nghiệp đưa ra thị trường 100.000 kg ắc quy chì, tỷ lệ tái chế bắt buộc là 12% và Fs là 17.920 đồng/kg, số tiền đóng góp tài chính để hỗ trợ tái chế được tính là:
100.000 × 12% × 17.920 = 215.040.000 đồng
Nếu doanh nghiệp đưa ra thị trường 100.000 kg ắc quy khác ắc quy chì, tỷ lệ tái chế bắt buộc là 8% và Fs là 49.800 đồng/kg, số tiền đóng góp tài chính được tính là:
100.000 × 8% × 49.800 = 398.400.000 đồng
Hai ví dụ này chỉ để minh họa cách tính. Khi triển khai thực tế, doanh nghiệp cần rà soát đúng loại sản phẩm, khối lượng đưa ra thị trường, trường hợp miễn trừ, phương án thực hiện và chứng từ liên quan.
Doanh nghiệp có thể thực hiện EPR cho ắc quy bằng cách nào?
Doanh nghiệp có hai hướng chính. Một là đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ hoạt động tái chế. Hai là tổ chức thực hiện tái chế thông qua các cách thức được pháp luật cho phép.
Nếu lựa chọn tổ chức tái chế, nhà sản xuất, nhập khẩu có thể tự thực hiện tái chế, hợp đồng với đơn vị tái chế, ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế hoặc kết hợp các cách thức này. Nghị định 110/2026/NĐ-CP cũng quy định đơn vị tái chế được thuê phải có giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần có nội dung phù hợp.
Với ắc quy, cách tự thực hiện thường không đơn giản. Đây là dòng sản phẩm có yêu cầu cao về an toàn, giấy phép, công nghệ tái chế, kiểm soát phát thải và chứng từ môi trường. Vì vậy, doanh nghiệp không nên chỉ tìm một đơn vị “thu mua ắc quy cũ”. Điều doanh nghiệp cần là một chuỗi có thể chứng minh: thu gom đúng, chuyển giao đúng, tái chế đúng và báo cáo đúng.
Ai có thể không phải thực hiện trách nhiệm tái chế ắc quy?
Không phải mọi doanh nghiệp có liên quan đến ắc quy đều phải thực hiện trách nhiệm tái chế. Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định một số trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế, bao gồm sản phẩm để xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, sản xuất hoặc nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm. Ngoài ra, nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm thuộc diện trách nhiệm tái chế dưới 30 tỷ đồng/năm cũng thuộc trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế.
Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên tự kết luận mình được miễn chỉ dựa trên cảm tính. Cần rà soát doanh thu, nhóm sản phẩm, vai trò pháp lý, hoạt động nhập khẩu, hoạt động gia công, nhãn hàng hóa và cách sản phẩm được đưa ra thị trường.
Với EPR, sai từ bước xác định đối tượng sẽ kéo theo sai toàn bộ phần còn lại.
Hạn đăng ký, kê khai và nộp tiền cần lưu ý
Trước ngày 01 tháng 4 hằng năm, nhà sản xuất, nhập khẩu phải đăng ký kế hoạch tái chế đối với sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường của năm liền trước và báo cáo kết quả tái chế của năm liền trước thông qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia. Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn đóng góp tài chính thay vì tự tổ chức tái chế, doanh nghiệp thực hiện kê khai số tiền đóng góp trước ngày 01 tháng 4.
Trước ngày 20 tháng 4 hằng năm, doanh nghiệp phải nộp đủ số tiền đóng góp tài chính hỗ trợ tái chế sản phẩm, bao bì đã kê khai vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
Thông tư 24/2026/TT-BNNMT cũng quy định biểu mẫu thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì, gồm Mẫu số 01 cho bản đăng ký, kê khai và Mẫu số 02 cho báo cáo kết quả tái chế.
Vì sao chứng từ EPR cho ắc quy phải làm chặt từ đầu?
Ắc quy là dòng sản phẩm có giá trị phế liệu tương đối rõ. Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp dễ nghĩ rằng “thị trường tự thu gom rồi, không cần làm gì thêm”. Đây là một nhầm lẫn nguy hiểm.
EPR không chỉ hỏi vật liệu có được ai đó thu mua hay không. EPR hỏi doanh nghiệp có chứng minh được trách nhiệm của mình đã được thực hiện đúng hay không.
Một bộ hồ sơ yếu thường có ba vấn đề. Thứ nhất, chỉ có hóa đơn hoặc phiếu cân cuối chuỗi, nhưng không thể hiện đầy đủ dòng chuyển giao từ điểm thu hồi đến recycler. Thứ hai, chứng từ thu gom không tách riêng khối lượng dùng cho EPR với các dòng nguyên liệu khác. Thứ ba, recycler có thể tiếp nhận vật liệu, nhưng hồ sơ xác nhận quy cách tái chế lại không đủ mạnh để phục vụ kiểm toán hoặc giải trình.
Với ắc quy, dữ liệu cần được thiết kế ngay từ đầu. Doanh nghiệp nên quản lý rõ loại ắc quy, khối lượng từng đợt, địa điểm thu hồi, đơn vị bàn giao, đơn vị tiếp nhận, chứng từ vận chuyển, phiếu cân, xác nhận tái chế, sản phẩm đầu ra và hồ sơ đối soát. Nếu đến cuối năm mới gom chứng từ, khả năng thiếu dữ liệu là rất cao.
Những sai lầm phổ biến khi làm EPR cho ắc quy
Sai lầm đầu tiên là nhầm giữa ắc quy chì và ắc quy khác ắc quy chì. Hai nhóm này có tỷ lệ tái chế và Fs khác nhau. Nhầm nhóm là sai chi phí và sai hồ sơ.
Sai lầm thứ hai là dùng từ “xử lý ắc quy” thay cho “tái chế ắc quy”. Cách nói này nghe nhỏ, nhưng về pháp lý dễ làm doanh nghiệp lẫn giữa EPR tái chế và EPR xử lý chất thải.
Sai lầm thứ ba là chỉ làm việc với đầu mối thu mua, không kiểm tra năng lực tái chế và giấy phép môi trường của đơn vị tái chế.
Sai lầm thứ tư là xem EPR như một thủ tục kê khai cuối năm. Thực tế, EPR cho ắc quy là một bài toán vận hành dữ liệu. Nếu không có dữ liệu từ đầu chuỗi, báo cáo cuối kỳ chỉ là trang trí Excel, đẹp nhưng mong manh.
Sai lầm thứ năm là không có cơ chế đối soát độc lập. Với dòng vật liệu có nhiều trung gian như ắc quy, doanh nghiệp cần đối soát giữa khối lượng thu gom, khối lượng chuyển giao, khối lượng recycler xác nhận và khối lượng được tính vào kết quả EPR.
GRAC hỗ trợ gì cho EPR ắc quy?
GRAC hỗ trợ doanh nghiệp biến nghĩa vụ EPR cho ắc quy thành một quy trình có dữ liệu, chứng từ và khả năng kiểm chứng. Cách tiếp cận của GRAC là Trace – Verify – Report: truy xuất dòng vật liệu, xác minh dữ liệu giữa các bên và xuất bộ hồ sơ phục vụ EPR, ESG hoặc kiểm toán nội bộ.
Theo hồ sơ năng lực, GRAC cung cấp một lớp thực thi và bằng chứng để lập kế hoạch nghĩa vụ, điều phối thu gom, xác minh giao dịch và xuất báo cáo sẵn sàng kiểm toán. Hệ thống dữ liệu có thể ghi nhận mã giao dịch, khối lượng, hình ảnh, địa điểm, xác nhận của recycler và hồ sơ chứng từ.
Với doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu ắc quy, GRAC có thể hỗ trợ theo toàn bộ chuỗi công việc. Trước hết là rà soát nghĩa vụ: xác định sản phẩm thuộc ắc quy chì hay ắc quy khác ắc quy chì, khối lượng đưa ra thị trường, tỷ lệ tái chế và Fs tương ứng. Sau đó là thiết kế phương án thực hiện: đóng góp tài chính, thuê đơn vị tái chế, ủy quyền cho PRO hoặc kết hợp nhiều phương án.
Ở phần vận hành, GRAC hỗ trợ kết nối và chuẩn hóa chuỗi thu hồi, từ điểm thu gom, đại lý, đơn vị vận chuyển, kho tập kết đến recycler đủ điều kiện. Ở phần dữ liệu, GRAC hỗ trợ số hóa chứng từ như phiếu cân, hình ảnh, thời gian, địa điểm, biên bản bàn giao, hóa đơn, xác nhận tiếp nhận và xác nhận tái chế. Ở phần báo cáo, GRAC giúp tổng hợp dữ liệu theo kỳ, đối soát khối lượng và chuẩn bị bộ chứng từ phục vụ kê khai, báo cáo hoặc giải trình khi cần.
Điểm khác biệt là GRAC không chỉ làm báo cáo cuối kỳ. GRAC giúp doanh nghiệp thiết kế dòng dữ liệu EPR từ đầu, để khi cần chứng minh, doanh nghiệp có bằng chứng thật thay vì chỉ có lời cam kết.
Kết luận
EPR cho ắc quy là trách nhiệm tái chế. Doanh nghiệp cần phân biệt rõ ắc quy chì và ắc quy khác ắc quy chì, vì mỗi nhóm có tỷ lệ tái chế, Fs và quy cách tái chế khác nhau.
Ắc quy chì có tỷ lệ tái chế bắt buộc 12% và Fs 17.920 đồng/kg. Ắc quy khác ắc quy chì có tỷ lệ tái chế bắt buộc 8% và Fs 49.800 đồng/kg. Nhưng con số chỉ là phần nổi. Phần khó hơn là chứng minh dòng vật liệu: thu gom ở đâu, chuyển giao cho ai, tái chế bằng cách nào, chứng từ có đủ không và dữ liệu có đủ sức qua kiểm tra hay không.
Với nhóm sản phẩm có rủi ro môi trường cao như ắc quy, EPR không nên làm theo kiểu “cuối năm gom giấy tờ”. Doanh nghiệp nên bắt đầu bằng việc phân loại đúng sản phẩm, tính đúng nghĩa vụ, chọn đúng đối tác và số hóa chứng từ ngay từ đầu.
GRAC hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện EPR cho ắc quy theo hướng rõ nghĩa vụ, rõ đối tác, rõ chứng từ và rõ dữ liệu.
Câu hỏi thường gặp về EPR cho ắc quy
EPR cho ắc quy là tái chế hay xử lý chất thải?
EPR cho ắc quy là trách nhiệm tái chế. Doanh nghiệp không nên gọi là EPR xử lý chất thải, vì đây là hai nhóm nghĩa vụ khác nhau trong hệ thống EPR.
Ắc quy chì có tỷ lệ tái chế bắt buộc bao nhiêu?
Ắc quy chì có tỷ lệ tái chế bắt buộc là 12%. Quy cách tái chế gồm tháo dỡ, phân loại, thu hồi vật liệu nhựa và sản xuất phôi chì.
Fs của ắc quy chì là bao nhiêu?
Fs của ắc quy chì là 17.920 đồng/kg theo Thông tư 24/2026/TT-BNNMT.
Ắc quy khác ắc quy chì có tỷ lệ và Fs bao nhiêu?
Ắc quy các loại khác ắc quy chì có tỷ lệ tái chế bắt buộc 8% và Fs 49.800 đồng/kg.
Doanh nghiệp có thể ủy quyền cho PRO thực hiện EPR ắc quy không?
Có. Doanh nghiệp có thể tự thực hiện tái chế, hợp đồng với đơn vị tái chế, ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế hoặc kết hợp các cách thức này theo Nghị định 110/2026/NĐ-CP.
GRAC có thể hỗ trợ gì cho doanh nghiệp có nghĩa vụ EPR ắc quy?
GRAC hỗ trợ rà soát nghĩa vụ, thiết kế phương án thực hiện, kết nối chuỗi thu hồi – tái chế, số hóa chứng từ và chuẩn bị bộ hồ sơ báo cáo EPR cho doanh nghiệp.