Blog
EPR rác thải điện tử: Quy định tái chế cho doanh nghiệp
EPR rác thải điện tử: Quy định tái chế cho doanh nghiệp
Điện thoại, laptop, tivi, màn hình, máy giặt, máy lạnh và nhiều thiết bị điện – điện tử khác không chỉ là tài sản hay hàng hóa. Khi hết vòng đời sử dụng, chúng còn trở thành một phần của chuỗi thu hồi và tái chế mà nhà sản xuất, nhập khẩu phải quan tâm theo cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất – EPR.
Với doanh nghiệp, EPR đối với thiết bị điện – điện tử không nên được hiểu đơn giản là:
“Thu gom được bao nhiêu rác điện tử?”
Câu hỏi đúng hơn là:
“Bao nhiêu sản phẩm thuộc trách nhiệm tái chế, được thu gom từ đâu, chuyển giao cho ai, được recycler nào tái chế, theo giải pháp nào và bằng chứng nào chứng minh kết quả đó?”
Đây là điểm đang làm thay đổi cách doanh nghiệp nhìn về e-waste: từ một dòng “đồ cũ, phế liệu” sang một chuỗi vật liệu, trách nhiệm và dữ liệu cần được quản lý xuyên suốt.
Đối với trách nhiệm tái chế từ năm 2026 trở đi, khung pháp lý hiện hành được quy định tại Nghị định 110/2026/NĐ-CP và các nội dung hướng dẫn tại Thông tư 24/2026/TT-BNNMT. Nghị định 110 quy định rõ đối tượng, tỷ lệ tái chế, quy cách tái chế, phương thức tổ chức thực hiện, hồ sơ và nghĩa vụ báo cáo; Thông tư 24 ban hành các biểu mẫu đăng ký và báo cáo tương ứng.
Bài viết này tập trung vào việc tổ chức tái chế thiết bị điện – điện tử và những dữ liệu doanh nghiệp cần quản lý để chứng minh kết quả thực hiện.
1. EPR đối với thiết bị điện – điện tử là gì?
EPR – Extended Producer Responsibility – là trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất.
Theo Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, nhà sản xuất, nhập khẩu sản phẩm thuộc Phụ lục I đưa ra thị trường Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm tái chế theo tỷ lệ tái chế bắt buộc và quy cách tái chế bắt buộc.
Khái niệm “đưa ra thị trường” cũng được Nghị định xác định là việc nhà sản xuất, nhập khẩu chuyển giao lần đầu sản phẩm sẵn sàng sử dụng hoặc tiêu thụ cho tổ chức, cá nhân khác nhằm lưu thông, kinh doanh tại Việt Nam.
Đối với thiết bị điện – điện tử, chuỗi thực hiện có thể hình dung:
Sản phẩm đưa ra thị trường
→ Sản phẩm sau sử dụng
→ Thu gom
→ Chuyển giao
→ Đơn vị tái chế
→ Tái chế theo quy cách
→ Xác nhận kết quả
→ Báo cáo EPR
Điểm quan trọng là:
Thu gom sản phẩm không đồng nghĩa với hoàn thành trách nhiệm tái chế.
Doanh nghiệp cần theo được quá trình cho đến kết quả tái chế đáp ứng quy định.
2. Những thiết bị điện – điện tử nào thuộc danh mục EPR?
Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định riêng nhóm:
Đ. Điện – điện tử
và ghi rõ:
“không bao gồm linh kiện, cụm linh kiện”.
Các nhóm sản phẩm và tỷ lệ tái chế bắt buộc hiện hành gồm:
| Mã nhóm | Sản phẩm | Tỷ lệ tái chế bắt buộc |
|---|---|---|
| Đ.1.1 | Tủ lạnh, tủ đông, điều hòa không khí, bếp điện, bếp từ, bếp hồng ngoại, lò nướng, lò vi sóng | 5% |
| Đ.1.2 | Máy giặt, máy sấy quần áo, loa, âm ly | 9% |
| Đ.2.1 | Tivi, màn hình máy tính để bàn | 7% |
| Đ.3.1 | Máy tính bảng, máy tính xách tay, máy ảnh, máy quay phim | 9% |
| Đ.3.2 | Điện thoại di động | 15% |
| Đ.4.1 | Máy tính để bàn không bao gồm màn hình, máy in, máy photocopy | 9% |
| Đ.5.1 | Bóng đèn compact, bóng đèn huỳnh quang | 8% |
| Đ.6.1 | Tấm quang năng | 3% |
Trong nhóm điện – điện tử, điện thoại di động hiện có tỷ lệ tái chế bắt buộc cao nhất: 15%.
Nghị định quy định tỷ lệ tái chế được điều chỉnh tăng theo chu kỳ ba năm một lần; mỗi lần cộng thêm không quá 10% và lần thay đổi đầu tiên vào năm 2029.
Vì vậy, việc bước sang năm 2027 không làm các tỷ lệ trên tự động thay đổi.
3. Có phải mọi doanh nghiệp kinh doanh thiết bị điện tử đều có nghĩa vụ EPR?
Không nên hiểu như vậy.
Đối tượng cốt lõi của trách nhiệm tái chế là nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm thuộc danh mục đưa ra thị trường Việt Nam.
Nghị định còn quy định cụ thể trách nhiệm trong các trường hợp như:
- cùng một nhãn hiệu được sản xuất tại nhiều nhà sản xuất;
- sản xuất gia công;
- ủy thác nhập khẩu;
- công ty mẹ, công ty con hoặc chi nhánh hạch toán độc lập.
Một điểm cần đặc biệt lưu ý:
Ngưỡng doanh thu 30 tỷ đồng không nên áp dụng như miễn trừ chung cho điện – điện tử
Điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định 110 quy định trường hợp doanh thu dưới 30 tỷ đồng nhưng dẫn chiếu tới các sản phẩm quy định tại khoản 2 Điều 4 – phần quy định về các nhóm sản phẩm có bao bì thương phẩm.
Do đó, không nên lấy ngưỡng này rồi áp dụng mặc nhiên cho nhà sản xuất, nhập khẩu thiết bị điện – điện tử.
Đối với doanh nghiệp điện tử, cần xác định nghĩa vụ dựa trên đúng sản phẩm, vai trò sản xuất/nhập khẩu và cách đưa sản phẩm ra thị trường.
4. Linh kiện và cụm linh kiện được xử lý thế nào?
Đây là phần dễ gây nhầm.
Phụ lục I ghi nhóm điện – điện tử không bao gồm linh kiện, cụm linh kiện.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 5 Nghị định 110 còn xử lý trường hợp một thiết bị điện – điện tử có linh kiện, thiết bị hợp phần hoặc cấu thành mà phần đó:
- thuộc danh mục sản phẩm phải tái chế; và
- trách nhiệm tái chế đã được nhà sản xuất, nhập khẩu cung cấp linh kiện đó thực hiện.
Khi đáp ứng điều kiện trên, khối lượng dùng để tính tỷ lệ tái chế của thiết bị có thể được trừ đi phần khối lượng tương ứng.
Vì vậy, doanh nghiệp không nên đơn giản hóa thành:
“Linh kiện điện tử không liên quan đến EPR.”
Cần xem cụ thể cấu thành sản phẩm và trách nhiệm đã được thực hiện ở cấp nào.
5. Khối lượng phải tái chế được xác định như thế nào?
Điều 5 Nghị định 110 xác định tỷ lệ tái chế bắt buộc là tỷ lệ khối lượng tối thiểu phải được tái chế theo quy cách bắt buộc trên tổng khối lượng sản phẩm được đưa ra thị trường trong năm có trách nhiệm.
Ví dụ đơn giản:
Một doanh nghiệp đưa ra thị trường:
1.000 tấn điện thoại di động
Tỷ lệ tái chế bắt buộc của nhóm Đ.3.2:
15%
Khối lượng tương ứng với trách nhiệm tái chế:
1.000 × 15% = 150 tấn
Điểm cần nhớ:
KPI EPR không phải chỉ là “150 tấn đã thu gom”.
Doanh nghiệp phải quan tâm tới khối lượng thực tế được tái chế đáp ứng quy định.
6. Có thể sử dụng e-waste của doanh nghiệp khác để thực hiện trách nhiệm không?
Có, trong phạm vi pháp luật cho phép.
Khoản 3 Điều 5 Nghị định 110 cho phép nhà sản xuất, nhập khẩu tái chế:
- sản phẩm do chính mình sản xuất, nhập khẩu; hoặc
- sản phẩm cùng nhóm do nhà sản xuất, nhập khẩu khác sản xuất, nhập khẩu.
Điều này rất quan trọng đối với e-waste.
Doanh nghiệp không nhất thiết phải truy tìm lại chính xác từng chiếc điện thoại, laptop hoặc tivi mà mình từng bán ra thị trường.
Có thể tổ chức thu hồi và tái chế sản phẩm cùng nhóm để đạt tỷ lệ bắt buộc.
Tuy nhiên, quy định loại trừ một số nguồn, đáng chú ý đối với điện – điện tử gồm:
- phế liệu nhập khẩu;
- sản phẩm lỗi bị thải loại trong quá trình sản xuất.
Vì vậy:
Không phải cứ có một khối lượng thiết bị điện tử đưa vào recycler thì khối lượng đó mặc nhiên được dùng làm kết quả EPR.
Nguồn và quá trình thực hiện vẫn cần được chứng minh.
7. Nếu tái chế vượt tỷ lệ bắt buộc thì sao?
Nghị định 110 cho phép phần khối lượng tái chế vượt tỷ lệ bắt buộc được bảo lưu để tính vào kết quả tái chế của các năm tiếp theo.
Ví dụ:
Doanh nghiệp phải tái chế:
150 tấn
nhưng thực tế hoàn thành:
170 tấn
thì phần chênh lệch đủ điều kiện có thể được bảo lưu theo quy định.
Điều này tạo động lực để doanh nghiệp không nhất thiết phải vận hành chuỗi thu gom – tái chế theo đúng một con số cứng từng năm.
Một hệ thống tốt nên quản lý được cả:
nghĩa vụ → thực hiện → phần thiếu → phần vượt → khối lượng được bảo lưu.
8. Doanh nghiệp có thể tổ chức tái chế như thế nào?
Đây là một trong những quy định quan trọng nhất đối với doanh nghiệp muốn trực tiếp thực hiện tái chế.
Trong trường hợp lựa chọn tổ chức tái chế, khoản 2 Điều 6 Nghị định 110 cho phép bốn cách thức:
Cách 1. Tự thực hiện tái chế
Nhà sản xuất, nhập khẩu tự thu hồi sản phẩm thải bỏ và thực hiện tái chế thông qua cơ sở do mình đầu tư.
Trường hợp này phải có giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần có nội dung phù hợp.
Cách 2. Ký hợp đồng với đơn vị tái chế
Doanh nghiệp thuê recycler thực hiện.
Recycler phải có giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần có nội dung phù hợp.
Cách 3. Ủy quyền cho PRO
Doanh nghiệp có thể ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế – PRO.
Cách 4. Kết hợp các cách thức trên
Có thể kết hợp:
tự thực hiện + recycler + PRO
trong cùng hình thức tổ chức tái chế.
Đây là một cơ chế khá linh hoạt.
Một doanh nghiệp có nhiều nhóm thiết bị hoặc hoạt động trên nhiều địa bàn không nhất thiết phải phụ thuộc vào một recycler duy nhất.
9. PRO trong EPR điện tử làm gì?
Nghị định 110 định nghĩa PRO là tổ chức được thành lập để tổ chức các hoạt động phục vụ trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu.
Hoạt động của PRO có thể bao gồm:
thu gom
→ vận chuyển
→ chuyển giao sản phẩm cho recycler
nhưng PRO không trực tiếp thực hiện tái chế hoặc sử dụng sản phẩm đó làm nguyên liệu sản xuất theo định nghĩa tại Nghị định.
Một yêu cầu rất quan trọng nằm tại khoản 5 Điều 6:
PRO được ủy quyền phải nghiệm thu, xác nhận khối lượng sản phẩm đã được recycler nhận chuyển giao và tái chế để tính vào kết quả tổ chức tái chế.
PRO cũng không được ủy quyền lại cho một PRO khác.
Vì vậy, vai trò của PRO không phải chỉ là:
“Tìm một nơi nhận rác.”
PRO phải tổ chức được chuỗi từ thu gom đến kết quả tái chế có thể xác nhận.

Mẫu minh họa giao diện GRAC trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia. Ảnh dùng để thử bố cục landing page; ảnh chụp chính thức cần được thay bằng dữ liệu công khai trên epr.mae.gov.vn.
10. Recycler thực hiện EPR phải đáp ứng điều kiện gì?
Điều 6 Nghị định 110 quy định đơn vị tái chế được nhà sản xuất, nhập khẩu hoặc PRO thuê phải có:
Giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần có nội dung phù hợp.
Điều này tạo ra một khác biệt rất quan trọng giữa:
Người thu mua đồ điện tử cũ
và
Recycler thực hiện khối lượng phục vụ EPR
Hai vai trò này không mặc nhiên giống nhau.
Với doanh nghiệp EPR, câu hỏi không nên chỉ là:
“Ai mua thiết bị này giá cao nhất?”
Mà còn phải hỏi:
“Đơn vị nào thực sự tái chế, có giấy phép phù hợp và có thể xác nhận kết quả?”
11. Thu gom xong có được tính là hoàn thành EPR không?
Không.
Phụ lục I Nghị định 110 không chỉ quy định tỷ lệ mà còn quy định quy cách tái chế bắt buộc.
Đối với nhiều nhóm điện – điện tử, giải pháp gồm:
- tháo dỡ;
- phân loại;
- thu hồi kim loại;
- thu hồi nhựa;
- thu hồi các vật liệu khác.
Với thiết bị màn hình và một số nhóm khác, quy cách còn đề cập xử lý phần thủy tinh nếu có.
Đối với bóng đèn compact và bóng đèn huỳnh quang, quy cách cũng có yêu cầu riêng về tháo dỡ, phân loại, thu hồi kim loại và xử lý phần thủy tinh.
Vì vậy:
1 kg thu gom ≠ 1 kg kết quả tái chế.
Giữa hai con số đó tồn tại một quá trình:
Collection
→ Transfer
→ Recycler acceptance
→ Recycling
→ Verified result
12. Hồ sơ EPR phải theo được những công đoạn nào?
Đây là một trong những quy định quan trọng nhất đối với nền tảng dữ liệu.
Khoản 6 Điều 6 Nghị định 110 yêu cầu hồ sơ, chứng từ liên quan tới:
thu gom
→ chuyển giao
→ tiếp nhận
→ xuất kho nguyên liệu đưa vào tái chế
đối với khối lượng dùng để tính kết quả phải được lập, quản lý và theo dõi riêng biệt với các nguyên liệu tái chế khác.
Quy định này làm xuất hiện một yêu cầu quản trị rất rõ:
Doanh nghiệp phải có khả năng nối các mắt xích với nhau.
Không chỉ:
Phiếu cân A tồn tại.
Mà là:
Phiếu cân A thuộc lô nào, đến từ nguồn nào, đã chuyển cho ai và cuối cùng được tính vào kết quả nào?
Đây chính là nền tảng của chain of custody.
13. Thông tư 24 yêu cầu những dữ liệu gì trong báo cáo?
Thông tư 24/2026/TT-BNNMT ban hành:
- Mẫu số 01: đăng ký, kê khai thực hiện trách nhiệm tái chế;
- Mẫu số 02: báo cáo kết quả tái chế.
Các biểu mẫu thể hiện nhiều trường dữ liệu quan trọng như:
- nhóm sản phẩm;
- khối lượng sản phẩm đưa ra thị trường;
- tỷ lệ tái chế bắt buộc;
- khối lượng phải tái chế;
- cách thức thực hiện;
- đơn vị tái chế hoặc PRO;
- giải pháp tái chế;
- khối lượng thực hiện;
- khối lượng đã thu gom;
- khối lượng thực tế đã tái chế;
- kết quả còn thiếu;
- kết quả tái chế vượt được bảo lưu.
Đối với trường hợp ủy quyền PRO, báo cáo còn phải phản ánh mối quan hệ giữa:
nhà sản xuất/importer → PRO → recycler → giải pháp tái chế → khối lượng tái chế.
Như vậy, EPR không còn là một con số tổng hợp cuối kỳ.
Nó là một data chain.
14. Có thay đổi recycler hoặc khối lượng trong năm được không?
Có, nhưng phải cập nhật.
Hướng dẫn tại Mẫu số 01 Phụ lục II Thông tư 24 quy định: trong năm thực hiện, nếu thay đổi:
- đơn vị thực hiện; hoặc
- khối lượng tổ chức tái chế,
nhà sản xuất, nhập khẩu phải cập nhật thông tin trong vòng 10 ngày kể từ ngày phát sinh thay đổi.
Đây là một chi tiết rất đáng chú ý.
Nó cho thấy quản lý EPR không thể chỉ diễn ra một lần vào đầu năm rồi để nguyên đến cuối năm.
Dữ liệu cần phản ánh được thực tế vận hành của chuỗi.
15. Thời hạn quan trọng đối với doanh nghiệp tổ chức tái chế
Theo Điều 7 Nghị định 110:
Trước ngày 01/4 hằng năm
nhà sản xuất, nhập khẩu phải:
- đăng ký kế hoạch tái chế đối với sản phẩm được đưa ra thị trường của năm liền trước; và
- báo cáo kết quả tái chế của năm liền trước
thông qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia.
Điều này có ý nghĩa rất thực tế vào thời điểm hiện nay.
Năm 2026 đang bước vào những tháng cuối, vì vậy doanh nghiệp không nên đợi tới tháng 3/2027 mới bắt đầu:
- xác định nhóm sản phẩm;
- tìm recycler;
- thiết kế mạng lưới thu gom;
- quản lý chứng từ;
- đối soát dữ liệu.
Dữ liệu cần được tạo ra ngay trong quá trình thực hiện.
Không phải dựng lại vào cuối kỳ.
16. Vì sao truy xuất rác thải điện tử ngày càng quan trọng?
Hãy hình dung một doanh nghiệp có:
- 200 cửa hàng;
- 10 văn phòng;
- hàng nghìn thiết bị;
- nhiều đợt thu gom;
- nhiều đơn vị vận chuyển;
- nhiều recycler.
Nếu dữ liệu nằm rời rạc trong:
Excel + email + tin nhắn + phiếu cân + biên bản giấy
thì khi cần đối soát, doanh nghiệp rất khó trả lời:
Lô này từ đâu?
Ai thu gom?
Ai nhận?
Recycler nào tái chế?
Khối lượng đầu vào bao nhiêu?
Kết quả cuối cùng bao nhiêu?
Có bị ghi nhận trùng không?
Một hệ thống truy xuất có thể cấu trúc chuỗi theo hướng:
Source
↓
Product / Waste Identification
↓
Collection
↓
Weight
↓
Transfer
↓
Recycler
↓
Recycling Result
↓
Evidence
↓
EPR Reporting
Cần lưu ý:
Nghị định 110 và Thông tư 24 không bắt buộc phải sử dụng QR code, blockchain hay một phần mềm thương mại cụ thể.
Công nghệ là công cụ quản trị, không phải sự thay thế cho yêu cầu pháp lý.
17. Có cần định danh từng laptop hoặc điện thoại không?
Không có quy định chung bắt buộc doanh nghiệp phải gắn một mã riêng cho từng thiết bị để thực hiện EPR.
Tuy nhiên, với những tài sản CNTT có giá trị hoặc chứa dữ liệu như:
- laptop;
- điện thoại;
- server;
- thiết bị mạng;
- máy tính doanh nghiệp,
quản lý ở cấp Asset ID có thể mang lại giá trị cao hơn.
Ví dụ:
Asset ID
LT-000125
↓
Ngừng sử dụng
↓
Waste Lot
EW-HCM-2026-035
↓
Thu gom
↓
Recycler
↓
Kết quả tái chế
Khi đó doanh nghiệp có thể biết không chỉ:
“10 tấn đã được xử lý”
mà còn:
“10 tấn đó được hình thành từ những tài sản/lô nào.”
Đây là lựa chọn quản trị, không phải trường dữ liệu bắt buộc do Nghị định 110 đặt ra.
18. EPR điện tử đang chuyển từ bài toán thu gom sang bài toán chứng minh
Có thể nhìn sự chuyển dịch theo ba cấp độ.
Cấp 1 – Thu gom
Đã thu được bao nhiêu?
Cấp 2 – Tái chế
Bao nhiêu thực sự được tái chế theo quy cách phù hợp?
Cấp 3 – Bằng chứng
Có thể chứng minh nguồn, chuỗi chuyển giao, recycler và kết quả hay không?
Đây là lý do doanh nghiệp cần nhìn EPR điện tử như một chuỗi:
Material flow + Data flow + Evidence
chứ không chỉ là một hợp đồng xử lý chất thải.
19. GRAC tiếp cận bài toán e-waste theo hướng nào?
Đối với một hệ thống có nhiều bên tham gia, giá trị của nền tảng số nằm ở khả năng kết nối dữ liệu xuyên suốt chuỗi.
Một kiến trúc có thể được tổ chức:
Producer / Enterprise
↓
Source / Product / Waste Identification
↓
Collection
↓
Transportation & Transfer
↓
Recycler
↓
Recycling Result
↓
Evidence
↓
EPR Reporting
Trong mô hình này:
Collector tập trung vào thu gom.
Recycler tập trung vào công nghệ và tái chế vật liệu.
PRO tổ chức và xác nhận chuỗi thực hiện khi được ủy quyền.
Còn nền tảng dữ liệu giúp các bên:
ghi nhận → kết nối → đối soát → truy xuất → tổng hợp bằng chứng.
Giá trị cuối cùng không phải là “có một app”.
Mà là:
biết một khối lượng rác điện tử đến từ đâu, đã đi đâu và kết thúc như thế nào.
Doanh nghiệp nên chuẩn bị gì?
Nếu đang sản xuất hoặc nhập khẩu thiết bị điện – điện tử thuộc danh mục EPR, doanh nghiệp có thể bắt đầu với 7 bước.
Bước 1 – Mapping sản phẩm
Xác định từng SKU thuộc nhóm nào từ Đ.1.1 đến Đ.6.1.
Bước 2 – Chuẩn hóa dữ liệu khối lượng
Xác định khối lượng sản phẩm đưa ra thị trường theo từng nhóm.
Bước 3 – Xác định khối lượng trách nhiệm
Áp dụng tỷ lệ tái chế tương ứng.
Bước 4 – Thiết kế phương án tổ chức tái chế
Xác định phần nào tự thực hiện, phần nào giao recycler, phần nào ủy quyền PRO.
Bước 5 – Kiểm tra recycler
Kiểm tra giấy phép và giải pháp tái chế phù hợp.
Bước 6 – Thiết lập chain of custody
Xác định hồ sơ và dữ liệu cần ghi nhận từ thu gom đến kết quả tái chế.
Bước 7 – Đối soát định kỳ
Không chờ đến gần ngày 01/4 mới tổng hợp toàn bộ dữ liệu.

Mô hình Digital PRO giúp doanh nghiệp thực hiện EPR minh bạch bằng dữ liệu truy xuất dòng vật liệu tái chế.
Câu hỏi thường gặp về EPR rác thải điện tử
Điện thoại di động có thuộc EPR không?
Có. Điện thoại di động thuộc nhóm Đ.3.2, với tỷ lệ tái chế bắt buộc hiện hành là 15%.
Laptop có thuộc EPR không?
Có. Máy tính bảng và máy tính xách tay thuộc nhóm Đ.3.1, tỷ lệ tái chế bắt buộc 9%.
Tivi và màn hình máy tính có thuộc EPR không?
Có. Tivi và màn hình máy tính để bàn thuộc nhóm Đ.2.1, tỷ lệ tái chế bắt buộc 7%.
Tấm pin năng lượng mặt trời có thuộc danh mục không?
Có. Nghị định sử dụng tên “tấm quang năng (còn gọi là pin năng lượng mặt trời)”, thuộc nhóm Đ.6.1 với tỷ lệ hiện hành 3%.
Thu gom rác điện tử có được tính là hoàn thành EPR không?
Không. Khối lượng phải đi qua quá trình tái chế đáp ứng quy cách tương ứng và có hồ sơ phục vụ việc xác nhận kết quả.
Có thể thuê recycler thực hiện không?
Có. Trong trường hợp tổ chức tái chế, doanh nghiệp có thể thuê đơn vị tái chế có giấy phép môi trường phù hợp.
Có thể ủy quyền cho PRO không?
Có. Nghị định 110 cho phép ủy quyền cho PRO. PRO phải nghiệm thu và xác nhận khối lượng đã được recycler nhận và tái chế.
Có thể sử dụng nhiều recycler không?
Có thể tổ chức thực hiện qua nhiều đơn vị, nhưng từng đơn vị, giải pháp và khối lượng phải được quản lý phù hợp. Thông tư 24 còn quy định việc thay đổi đơn vị hoặc khối lượng trong năm phải được cập nhật trong vòng 10 ngày kể từ khi phát sinh thay đổi.
Có bắt buộc sử dụng QR code cho rác điện tử không?
Không. Nghị định 110 và Thông tư 24 không đặt ra yêu cầu chung bắt buộc gắn QR cho từng thiết bị hoặc lô e-waste.
Ngưỡng doanh thu dưới 30 tỷ có miễn EPR cho doanh nghiệp điện tử không?
Không nên áp dụng ngưỡng này như một miễn trừ chung cho thiết bị điện – điện tử. Điểm b khoản 3 Điều 4 dẫn chiếu các sản phẩm quy định tại khoản 2 Điều 4, không phải toàn bộ nhóm sản phẩm điện – điện tử.
Kết luận
EPR đang làm thay đổi cách doanh nghiệp quản lý thiết bị điện – điện tử sau sử dụng.
Chuỗi không kết thúc ở:
“đã có người đến lấy rác.”
Nó phải đi tiếp:
Thu gom
→ Chuyển giao
→ Recycler
→ Tái chế
→ Xác nhận
→ Dữ liệu
→ Bằng chứng EPR
Và khi số lượng điểm phát sinh, recycler và giao dịch tăng lên, vấn đề không chỉ là thu gom nhiều hơn.
Vấn đề là:
làm sao biết dòng vật liệu đến từ đâu, đã đi đâu và chứng minh được kết quả cuối cùng.
Đó là lý do traceability – khả năng truy xuất sẽ ngày càng trở thành một lớp quan trọng trong quản trị EPR đối với rác thải điện tử.
Căn cứ pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 và các văn bản sửa đổi, bổ sung có liên quan.
- Nghị định số 110/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 25/5/2026; trách nhiệm của các năm từ 2026 trở đi thực hiện theo Nghị định này.
- Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT ngày 25/5/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, quy định chi tiết và ban hành các biểu mẫu thực hiện trách nhiệm tái chế.
Bài viết cung cấp thông tin tổng quan về việc tổ chức tái chế sản phẩm điện – điện tử. Việc xác định nghĩa vụ cụ thể cần căn cứ sản phẩm, vai trò của doanh nghiệp và hồ sơ thực tế.
Cập nhật: tháng 8/2026.