Blog
Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp trong EPR: Cách kê khai
Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp trong EPR: Vỏ hộp sữa kê khai thế nào?
Nhiều doanh nghiệp gọi vỏ hộp sữa, hộp nước trái cây hoặc hộp đồ uống dinh dưỡng là “bao bì giấy” vì lớp giấy thường chiếm tỷ trọng lớn và bề mặt bên ngoài trông giống carton.
Tuy nhiên, trong EPR, nhìn giống giấy chưa chắc được kê khai là bao bì giấy, carton thông thường.
Nghị định 110/2026/NĐ-CP tách riêng hai nhóm:
- Bao bì giấy, carton;
- Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp.
Hai nhóm này có tỷ lệ tái chế bắt buộc và mức đóng góp tài chính Fs khác nhau. Nếu phân loại sai, doanh nghiệp có thể tính sai khối lượng phải tái chế, sai số tiền đóng góp hoặc lựa chọn sai phương án tái chế.
Câu trả lời ngắn gọn là:
Bao bì có từ hai lớp trở lên, trong đó có lớp giấy, có thể thuộc nhóm bao bì giấy hỗn hợp đa lớp. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải kiểm tra cấu trúc kỹ thuật thực tế, không nên phân loại chỉ bằng tên gọi hoặc cảm quan.
Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp là gì?
Theo mục A.1.2 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 110/2026/NĐ-CP, bao bì giấy hỗn hợp đa lớp là bao bì có từ hai lớp trở lên, trong đó có lớp giấy.
Nhóm bao bì này có tỷ lệ tái chế bắt buộc là 15%. Quy cách tái chế bắt buộc gồm sản xuất bột giấy thương phẩm hoặc sản xuất bao bì, sản phẩm cụ thể.
Trong thực tế, một bao bì giấy đa lớp có thể được cấu tạo từ:
- Lớp giấy hoặc carton tạo độ cứng;
- Lớp nhựa giúp chống ẩm và hàn kín;
- Lớp nhôm giúp cản ánh sáng, oxy hoặc mùi;
- Mực in, keo và các lớp liên kết khác.
Các lớp vật liệu này được kết hợp để tạo ra chức năng mà giấy hoặc carton đơn thuần không thể đáp ứng.
Vì vậy, doanh nghiệp không nên chỉ nhìn phần vật liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất. Cần xem xét bao bì như một cấu trúc vật liệu hoàn chỉnh.

EPR vỏ hộp sữa
Phân biệt bao bì giấy, carton và bao bì giấy hỗn hợp đa lớp
Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định hai nhóm bao bì giấy khác nhau.
Nhóm A.1.1 – Bao bì giấy, carton
Nhóm này gồm giấy hoặc carton, kể cả loại được tráng phủ một hoặc hai mặt nhưng không làm mất đi nhận dạng là giấy hoặc carton.
Ví dụ thường gặp có thể gồm:
- Thùng carton;
- Hộp giấy khô;
- Khay giấy;
- Một số loại giấy hoặc carton có lớp phủ chống ẩm;
- Bao bì giấy vẫn giữ đặc tính nhận dạng chính là giấy hoặc carton.
Tỷ lệ tái chế bắt buộc của nhóm A.1.1 là 20%. Quy cách tái chế bắt buộc gồm sản xuất bột giấy thương phẩm hoặc sản xuất bao bì, sản phẩm cụ thể.
Mức đóng góp tài chính Fs hiện hành đối với bao bì giấy, carton là 1.900 đồng/kg.
Nhóm A.1.2 – Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp
Nhóm này gồm bao bì có từ hai lớp trở lên, trong đó có lớp giấy.
Ví dụ có thể gồm:
- Vỏ hộp sữa;
- Hộp nước trái cây;
- Hộp đồ uống dinh dưỡng;
- Bao bì thực phẩm lỏng;
- Bao bì giấy ghép với nhựa hoặc nhôm;
- Một số loại hộp thực phẩm có kết cấu nhiều lớp.
Tỷ lệ tái chế bắt buộc của nhóm A.1.2 là 15%.
Mức đóng góp tài chính Fs hiện hành đối với bao bì giấy hỗn hợp đa lớp là 6.420 đồng/kg.
Như vậy, Fs của bao bì giấy hỗn hợp đa lớp cao hơn đáng kể so với giấy, carton thông thường.
Đây là lý do doanh nghiệp không nên kê khai toàn bộ hộp giấy vào nhóm A.1.1 chỉ vì tên gọi thương mại có chữ “giấy”.
Không phải cứ có lớp nhựa là bao bì giấy đa lớp
Đây là vùng dễ nhầm nhất.
Nghị định cho phép nhóm A.1.1 bao gồm cả giấy hoặc carton được tráng phủ một hoặc hai mặt, miễn là vật liệu không mất đi nhận dạng là giấy hoặc carton. Trong khi đó, nhóm A.1.2 được mô tả là bao bì có từ hai lớp trở lên, trong đó có lớp giấy.
Do đó, không nên áp dụng cách hiểu đơn giản rằng:
Có nhựa là đa lớp, không có nhựa là giấy thông thường.
Một số loại giấy hoặc carton chỉ được tráng phủ mỏng để chống ẩm nhưng vẫn giữ đặc tính chính là giấy, carton có thể được xem xét trong nhóm A.1.1.
Ngược lại, bao bì được tạo thành từ nhiều lớp vật liệu ghép với nhau, trong đó các lớp giấy, nhựa hoặc nhôm cùng thực hiện chức năng bảo quản, cản khí, chống ẩm và hàn kín, có cơ sở mạnh hơn để xem xét trong nhóm A.1.2.
Pháp luật hiện chưa đưa ra một phép thử định lượng chung để phân xử mọi trường hợp giáp ranh.
Vì vậy, với ly giấy tráng PE, hộp giấy chống dầu, giấy ghép màng hoặc bao bì có cấu trúc đặc biệt, doanh nghiệp nên chuẩn bị:
- Bản thông số kỹ thuật của nhà cung cấp;
- Cấu trúc từng lớp vật liệu;
- Định lượng hoặc khối lượng của từng thành phần;
- Mô tả chức năng của lớp phủ;
- Mẫu bao bì thực tế;
- Tài liệu hoặc biên bản giải trình cách phân nhóm.
Phân loại theo hồ sơ kỹ thuật sẽ đáng tin cậy hơn nhiều so với phân loại bằng mắt.
Vỏ hộp sữa có phải bao bì giấy hỗn hợp đa lớp không?
Nhiều loại vỏ hộp sữa có thể thuộc nhóm bao bì giấy hỗn hợp đa lớp, đặc biệt khi thân hộp được cấu tạo từ giấy kết hợp với nhiều lớp nhựa, nhôm hoặc vật liệu khác.
Tuy nhiên, không nên áp dụng một kết luận duy nhất cho mọi sản phẩm có hình dạng hộp giấy.
Một số loại hộp có thể chỉ là carton được tráng phủ một hoặc hai mặt. Một số loại khác là cấu trúc ghép nhiều lớp phục vụ bảo quản vô trùng hoặc kéo dài thời hạn sử dụng.
Doanh nghiệp cần kiểm tra hồ sơ kỹ thuật của từng loại bao bì và từng nhà cung cấp.
Cách làm an toàn là đặt ba câu hỏi:
- Bao bì có bao nhiêu lớp vật liệu?
- Lớp ngoài giấy, carton có thêm nhựa, nhôm hoặc vật liệu khác không?
- Các lớp đó chỉ là lớp phủ bề mặt hay cùng tạo thành một kết cấu bao bì đa lớp?
Không nên chỉ dựa vào tên gọi “hộp giấy”, “carton đồ uống” hoặc “vỏ hộp sữa”.
Một hộp sữa có thể phát sinh nhiều nhóm bao bì EPR
Một SKU sữa đóng hộp không nhất thiết chỉ được kê khai thành một dòng bao bì.
Doanh nghiệp nên bóc tách từng cấu phần.
Thân hộp
Nếu thân hộp có cấu trúc giấy ghép với nhựa, nhôm hoặc nhiều lớp vật liệu khác, doanh nghiệp cần xem xét nhóm A.1.2 – bao bì giấy hỗn hợp đa lớp.
Nắp nhựa
Nắp nhựa cần được xác định theo loại nhựa thực tế, chẳng hạn HDPE hoặc PP.
Bao bì nhựa cứng HDPE, LDPE, PP và PS thuộc nhóm A.3.2, có tỷ lệ tái chế bắt buộc là 15%.
Không nên gộp khối lượng nắp nhựa vào khối lượng thân hộp giấy đa lớp.
Ống hút nhựa
Ống hút cần được xác định vật liệu, khối lượng và chức năng thực tế. Doanh nghiệp không nên mặc nhiên gộp ống hút vào thân hộp.
Màng bọc lốc
Màng nhựa dùng để bọc nhiều hộp thành một lốc có thể thuộc nhóm bao bì nhựa mềm nếu đáp ứng phạm vi bao bì thương phẩm.
Nhóm bao bì nhựa mềm có tỷ lệ tái chế bắt buộc là 10%.
Thùng carton bên ngoài
Thùng carton dùng để bao gói sản phẩm có thể thuộc nhóm A.1.1 – bao bì giấy, carton.
Doanh nghiệp cần xác định đây có phải bao bì ngoài thuộc phạm vi EPR hay chỉ là vật liệu phục vụ vận chuyển nội bộ.
Khay giấy và miếng chèn
Không phải mọi vật liệu giấy đi kèm sản phẩm đều tự động được xác định là bao bì thương phẩm.
Cần xem xét chức năng, cách sản phẩm được đưa ra thị trường và quan hệ giữa vật liệu đó với đơn vị hàng hóa bán cho khách hàng.
Điểm cần nhớ là:
Một SKU có thể phát sinh nhiều nhóm bao bì EPR, với tỷ lệ tái chế và Fs khác nhau.
Bao bì giấy đa lớp nào thuộc phạm vi thực hiện EPR?
Theo Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì thuộc Phụ lục I được đưa ra thị trường Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm tái chế theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc.
Đối với bao bì, phạm vi áp dụng là bao bì thương phẩm, bao gồm bao bì trực tiếp và bao bì ngoài của các nhóm sản phẩm sau:
- Thực phẩm, trừ kẹo cao su;
- Mỹ phẩm;
- Thuốc;
- Phân bón, thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y;
- Xà phòng, chất tẩy rửa, chất làm bóng và chế phẩm vệ sinh dùng trong nông nghiệp, y tế và sinh hoạt;
- Xi măng.
Như vậy, hộp sữa, hộp nước trái cây và hộp đồ uống dinh dưỡng là những loại bao bì cần được rà soát vì chúng thường là bao bì trực tiếp của thực phẩm.
Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải kiểm tra trường hợp miễn trừ.
Các đối tượng không phải thực hiện trách nhiệm tái chế gồm:
- Sản phẩm, bao bì để xuất khẩu hoặc tạm nhập, tái xuất;
- Sản phẩm, bao bì phục vụ nghiên cứu, học tập hoặc thử nghiệm;
- Nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm thuộc phạm vi quy định dưới 30 tỷ đồng mỗi năm;
- Bao bì đã được chính nhà sản xuất thu hồi và đóng gói để tiếp tục đưa ra thị trường với tỷ lệ thu hồi, đóng gói lại bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tái chế bắt buộc.
Doanh nghiệp cần kiểm tra đồng thời ba vấn đề:
- Sản phẩm có thuộc nhóm hàng hóa chịu trách nhiệm EPR không?
- Bao bì có phải bao bì trực tiếp hoặc bao bì ngoài không?
- Doanh nghiệp có thuộc trường hợp được miễn trừ không?

Mô hình Digital PRO giúp doanh nghiệp thực hiện EPR minh bạch bằng dữ liệu truy xuất dòng vật liệu tái chế.
Cách bóc tách và kê khai bao bì giấy đa lớp theo từng SKU
Bước 1: Lập danh sách SKU
Mỗi SKU nên được ghi nhận tối thiểu:
- Mã sản phẩm;
- Tên sản phẩm;
- Dung tích hoặc quy cách;
- Nhà cung cấp bao bì;
- Số lượng đưa ra thị trường Việt Nam;
- Số lượng xuất khẩu;
- Thời gian sử dụng loại bao bì;
- Cấu trúc vật liệu.
Không nên tạo một dòng tổng hợp “hộp sữa” cho toàn bộ danh mục nếu các SKU sử dụng cấu trúc bao bì khác nhau.
Bước 2: Thu thập hồ sơ kỹ thuật
Doanh nghiệp nên yêu cầu nhà cung cấp cung cấp:
- Material specification;
- Bill of materials;
- Cấu trúc từng lớp;
- Định lượng giấy, nhựa và nhôm;
- Khối lượng đơn vị;
- Tuyên bố hoặc mô tả kỹ thuật của vật liệu.
Đây là căn cứ quan trọng để phân biệt A.1.1 và A.1.2.
Bước 3: Bóc tách từng cấu phần
Đối với một hộp sữa, cần xem xét riêng:
- Thân hộp;
- Nắp;
- Vòng giữ nắp;
- Ống hút;
- Màng bọc;
- Khay hoặc hộp ngoài;
- Thùng carton.
Mỗi cấu phần cần được xác định vật liệu và khối lượng riêng.
Bước 4: Xác định khối lượng đơn vị
Khối lượng bao bì có thể được xác định bằng:
- Tài liệu kỹ thuật của nhà cung cấp;
- Hồ sơ mua hàng;
- Phiếu thông số sản phẩm;
- Cân mẫu thực tế;
- Kết quả cân trung bình của nhiều mẫu;
- Biên bản xác nhận nội bộ.
Nếu cân mẫu thực tế, doanh nghiệp nên lưu lại cách lấy mẫu, số lượng mẫu và kết quả trung bình để có thể giải trình.
Bước 5: Tính tổng khối lượng đưa ra thị trường
Công thức nghiệp vụ cơ bản:
Tổng khối lượng bao bì = Khối lượng một đơn vị bao bì × Số lượng sản phẩm đưa ra thị trường
Doanh nghiệp không nên sử dụng trực tiếp tổng khối lượng bao bì đã mua trong năm vì:
- Bao bì có thể còn tồn kho;
- Một phần được dùng cho hàng xuất khẩu;
- Một phần bị lỗi hoặc hủy trong sản xuất;
- Thời điểm mua bao bì chưa chắc trùng với thời điểm sản phẩm được đưa ra thị trường.
Khối lượng dùng để xác định trách nhiệm EPR là khối lượng sản phẩm, bao bì được đưa ra thị trường trong năm có trách nhiệm.
Tỷ lệ tái chế bao bì giấy hỗn hợp đa lớp được tính thế nào?
Tỷ lệ tái chế bắt buộc đối với nhóm A.1.2 là 15%.
Ví dụ, một doanh nghiệp đưa ra thị trường 100.000 kg thân hộp giấy hỗn hợp đa lớp trong năm.
Khối lượng tối thiểu phải được tái chế là:
100.000 kg × 15% = 15.000 kg
Tương đương 15 tấn.
Tỷ lệ này được tính trên tổng khối lượng bao bì thuộc trách nhiệm được đưa ra thị trường, không phải trên doanh thu và cũng không phải trên khối lượng doanh nghiệp đã thu gom được.
Nghị định quy định tỷ lệ tái chế bắt buộc được điều chỉnh tăng theo chu kỳ ba năm, lần thay đổi đầu tiên vào năm 2029.
Nếu đóng góp tài chính thì tính bao nhiêu?
Trường hợp lựa chọn đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, số tiền được tính theo công thức:
F = R × V × Fs
Trong đó:
- F là tổng số tiền doanh nghiệp phải đóng góp;
- R là tỷ lệ tái chế bắt buộc;
- V là khối lượng sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường;
- Fs là mức đóng góp tài chính trên một đơn vị khối lượng.
Đối với bao bì giấy hỗn hợp đa lớp, Fs hiện hành là 6.420 đồng/kg.
Với ví dụ 100.000 kg:
F = 15% × 100.000 kg × 6.420 đồng/kg
Số tiền phải đóng góp là:
96.300.000 đồng
Con số này chỉ áp dụng cho phần thân bao bì thuộc nhóm giấy hỗn hợp đa lớp.
Nắp nhựa, màng bọc và thùng carton phải được xác định và tính riêng theo nhóm vật liệu tương ứng.
Doanh nghiệp lựa chọn đóng góp tài chính phải kê khai trước ngày 1 tháng 4 và hoàn thành việc đóng góp trước ngày 20 tháng 4 hằng năm.
Doanh nghiệp có thể tổ chức tái chế bằng cách nào?
Nếu không lựa chọn đóng góp tài chính, doanh nghiệp có thể tổ chức tái chế bằng một hoặc kết hợp các cách sau:
- Tự thực hiện tái chế;
- Ký hợp đồng với đơn vị tái chế;
- Ủy quyền cho tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế;
- Kết hợp các phương án trên.
Đơn vị tái chế được thuê phải có giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần có nội dung phù hợp với hoạt động tái chế sản phẩm, bao bì.
Trường hợp thực hiện thông qua tổ chức PRO, PRO phải nghiệm thu và xác nhận khối lượng sản phẩm, bao bì đã được chuyển giao và tái chế.
Hồ sơ, chứng từ thu gom, chuyển giao, tiếp nhận và xuất kho nguyên liệu dùng để tính kết quả tái chế phải được lập, quản lý và theo dõi riêng với các nguyên liệu tái chế khác.
Trước ngày 1 tháng 4 hằng năm, doanh nghiệp lựa chọn tổ chức tái chế phải đăng ký kế hoạch tái chế và báo cáo kết quả tái chế của năm trước qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia.
Nhà sản xuất, nhập khẩu chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin đã báo cáo.
Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp phải được tái chế thành gì?
Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định hai hướng đáp ứng quy cách tái chế đối với bao bì giấy hỗn hợp đa lớp:
- Sản xuất bột giấy thương phẩm;
- Sản xuất bao bì hoặc sản phẩm cụ thể.
Trong thực tế, quá trình tái chế có thể bao gồm:
- Thu gom và phân loại;
- Loại bỏ tạp chất;
- Nghiền hoặc đánh tơi vật liệu;
- Tách sợi giấy khỏi phần nhựa và nhôm;
- Thu hồi sợi giấy để sản xuất giấy hoặc sản phẩm mới;
- Xử lý phần nhựa, nhôm bằng công nghệ phù hợp.
Tuy nhiên, không phải cứ thu gom vỏ hộp rồi chuyển đến bất kỳ cơ sở xử lý nào cũng được tính là kết quả tái chế EPR.
Doanh nghiệp cần chứng minh:
- Đúng loại vật liệu;
- Đúng khối lượng;
- Đúng đơn vị tái chế;
- Đúng phạm vi giấy phép;
- Đúng quy cách đầu ra;
- Có hồ sơ thu gom, chuyển giao và tiếp nhận;
- Không kê khai hoặc phân bổ trùng kết quả.
Có được dùng phế phẩm nhà máy để hoàn thành EPR không?
Không phải mọi nguồn bao bì giấy đa lớp đều được dùng để hoàn thành trách nhiệm tái chế.
Khoản 3 Điều 5 Nghị định 110/2026/NĐ-CP loại trừ ba nguồn:
- Phế liệu nhập khẩu;
- Bao bì là chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp;
- Sản phẩm lỗi bị thải loại trong quá trình sản xuất.
Ví dụ, mép cắt thừa, cuộn bao bì lỗi hoặc hộp bị loại ngay tại dây chuyền sản xuất không nên được đánh đồng với vỏ hộp đã được người tiêu dùng sử dụng và thải bỏ.
Đây là lý do doanh nghiệp cần kiểm tra nguồn đầu vào của recycler, không chỉ kiểm tra hóa đơn hoặc tổng khối lượng cuối kỳ.
Bảy lỗi thường gặp khi kê khai EPR cho bao bì giấy đa lớp
1. Nhìn hình dạng rồi kê khai là giấy carton
Bao bì có hình dạng hộp giấy nhưng bên trong có thể là cấu trúc nhiều lớp.
2. Gộp thân hộp và nắp nhựa
Thân hộp và nắp nhựa có thể thuộc hai nhóm EPR khác nhau, với tỷ lệ tái chế và Fs khác nhau.
3. Không phân biệt lớp phủ và cấu trúc ghép đa lớp
Một số giấy, carton tráng phủ vẫn có thể thuộc A.1.1. Cần kiểm tra cấu trúc kỹ thuật thay vì chỉ nhìn sự hiện diện của nhựa.
4. Dùng số lượng mua vào thay cho số lượng đưa ra thị trường
Cách tính này dễ sai do tồn kho, hàng xuất khẩu và hao hụt sản xuất.
5. Dùng phế phẩm nhà máy để hoàn thành nghĩa vụ
Phế phẩm sản xuất có thể thuộc nguồn bị loại trừ theo khoản 3 Điều 5 Nghị định 110/2026/NĐ-CP.
6. Chọn recycler không có giấy phép phù hợp
Có hoạt động tái chế thực tế chưa đủ. Nội dung giấy phép môi trường phải phù hợp với hoạt động tái chế được thuê thực hiện.
7. Chỉ lưu hóa đơn và phiếu cân
Hóa đơn chứng minh giao dịch. Phiếu cân chứng minh khối lượng tại một thời điểm.
Hồ sơ EPR còn phải bảo vệ được chuỗi thu gom, chuyển giao, tiếp nhận, quản lý riêng và kết quả tái chế.
Checklist dành cho doanh nghiệp
Trước khi kê khai bao bì giấy hỗn hợp đa lớp, doanh nghiệp nên kiểm tra:
- Đã lập danh sách đầy đủ SKU;
- Đã xác định bao bì trực tiếp và bao bì ngoài;
- Đã lấy thông số vật liệu từ nhà cung cấp;
- Đã phân biệt lớp phủ và cấu trúc đa lớp;
- Đã cân riêng thân hộp, nắp và các cấu phần khác;
- Đã xác định đúng nhóm A.1.1 hoặc A.1.2;
- Đã loại trừ hàng xuất khẩu và trường hợp được miễn;
- Đã tính khối lượng thực tế đưa ra thị trường;
- Đã lựa chọn tổ chức tái chế hoặc đóng góp tài chính;
- Đã kiểm tra giấy phép của recycler;
- Đã thiết kế chuỗi chứng từ;
- Đã có cơ chế ngăn ngừa tính trùng khối lượng.
GRAC hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện EPR như thế nào?
GRAC hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng dữ liệu EPR theo hành trình:
SKU → cấu phần bao bì → nhóm vật liệu → khối lượng thị trường → phương án thực hiện → thu gom → tái chế → chứng từ → báo cáo.
Đối với bao bì giấy hỗn hợp đa lớp, GRAC có thể hỗ trợ:
- Rà soát danh mục SKU;
- Bóc tách thân hộp, nắp, màng và bao bì ngoài;
- Xác định rủi ro phân loại vật liệu;
- Tính khối lượng tái chế bắt buộc;
- So sánh chi phí tái chế và đóng góp tài chính;
- Thiết kế mạng lưới thu gom;
- Kết nối đơn vị tái chế phù hợp;
- Quản lý mã giao dịch và mã lô;
- Đối soát phiếu cân, chứng từ và kết quả tái chế;
- Tổng hợp dữ liệu phục vụ báo cáo EPR.
Giá trị của EPR không nằm ở việc gọi một bao bì là “xanh” hoặc “có thể tái chế”.
Giá trị nằm ở khả năng chứng minh:
Bao bì nào, khối lượng bao nhiêu, được đưa ra thị trường khi nào, thu gom từ đâu, tái chế bằng cách nào và kết quả thuộc về ai.
Kết luận
Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp là một nhóm riêng trong EPR, không nên tự động gộp chung với giấy và carton thông thường.
Doanh nghiệp cần nhớ bốn nguyên tắc:
Phân loại theo cấu trúc, không phân loại bằng cảm quan.
Bóc tách từng cấu phần, không kê khai toàn bộ SKU thành một vật liệu.
Tính theo khối lượng đưa ra thị trường, không tính theo lượng bao bì đã mua.
Chứng minh kết quả tái chế bằng cả chuỗi dữ liệu, không chỉ bằng hóa đơn cuối kỳ.
Xác định đúng ngay từ đầu giúp doanh nghiệp tránh sai tỷ lệ tái chế, sai Fs, sai đối tác và sai hồ sơ báo cáo.
Câu hỏi thường gặp
Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp có tỷ lệ tái chế bao nhiêu?
Tỷ lệ tái chế bắt buộc hiện hành là 15% theo mục A.1.2 Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP.
Vỏ hộp sữa có được kê khai là giấy carton không?
Không nên mặc nhiên kê khai là giấy carton. Doanh nghiệp cần kiểm tra cấu trúc vật liệu. Nếu bao bì có từ hai lớp trở lên, trong đó có lớp giấy, bao bì có thể thuộc nhóm giấy hỗn hợp đa lớp.
Nắp nhựa của hộp sữa có gộp vào thân hộp không?
Không nên gộp. Nắp nhựa cần được xác định loại nhựa, cân khối lượng và kê khai theo nhóm vật liệu phù hợp.
Ly giấy tráng PE thuộc nhóm nào?
Không thể kết luận chỉ từ tên gọi “ly giấy”. Doanh nghiệp cần kiểm tra cấu trúc, đặc điểm lớp phủ và hồ sơ kỹ thuật để xác định thuộc A.1.1 hay A.1.2.
Fs của bao bì giấy hỗn hợp đa lớp là bao nhiêu?
Fs hiện hành là 6.420 đồng/kg theo Thông tư 24/2026/TT-BNNMT.
Có thể dùng hộp lỗi trong nhà máy để hoàn thành EPR không?
Bao bì là chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp và sản phẩm lỗi bị loại trong quá trình sản xuất thuộc nguồn bị loại trừ khi tính kết quả tái chế.
Có thể tái chế bao bì của thương hiệu khác để hoàn thành trách nhiệm không?
Nghị định cho phép doanh nghiệp tái chế sản phẩm, bao bì cùng nhóm do doanh nghiệp khác đưa ra thị trường, miễn đáp ứng tỷ lệ, quy cách và không sử dụng các nguồn vật liệu bị loại trừ.
Doanh nghiệp chưa chắc vỏ hộp của mình thuộc giấy carton hay giấy hỗn hợp đa lớp? Liên hệ GRAC để rà soát cấu trúc bao bì, bóc tách SKU và tính đúng nghĩa vụ EPR trước khi kê khai.