Blog
EPR bao bì xi măng: Doanh nghiệp cần kê khai và tái chế thế nào?
Bao bì xi măng là một trong những nhóm bao bì doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý khi thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất – EPR.
Theo Nghị định 110/2026/NĐ-CP, xi măng thuộc nhóm sản phẩm có bao bì thương phẩm phải thực hiện trách nhiệm tái chế. Tuy nhiên, một sai lầm dễ gặp là coi mọi “bao xi măng” là cùng một loại bao bì EPR.
Thực tế, bao xi măng có thể được cấu tạo từ giấy Kraft, nhựa PP dệt, màng PE, BOPP hoặc nhiều vật liệu ghép với nhau. Vì vậy, doanh nghiệp cần xác định đúng cấu trúc vật liệu của từng loại bao bì trước khi tính khối lượng, tỷ lệ tái chế và chi phí EPR.
EPR bao bì xi măng: 1. Bao bì xi măng có thuộc EPR không?
Có.
Khoản 2 Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định bao bì thương phẩm thuộc trách nhiệm tái chế bao gồm bao bì trực tiếp và bao bì ngoài của một số nhóm sản phẩm, trong đó có xi măng.
Điều này có nghĩa doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu xi măng đưa sản phẩm đã đóng bao ra thị trường Việt Nam cần rà soát trách nhiệm EPR đối với lượng bao bì tương ứng.
Một số trường hợp được miễn trách nhiệm tái chế theo quy định, trong đó có nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm thuộc nhóm quy định dưới 30 tỷ đồng/năm.
Điểm quan trọng
EPR được tính trên khối lượng bao bì đưa ra thị trường, không phải trên khối lượng xi măng chứa bên trong.
Ví dụ doanh nghiệp bán 100.000 tấn xi măng không có nghĩa 100.000 tấn này là khối lượng dùng để tính EPR. Doanh nghiệp phải xác định tổng khối lượng vỏ bao tương ứng đã đưa ra thị trường.
2. Bao xi măng thuộc nhóm vật liệu EPR nào?
Không có một mã EPR riêng mang tên “bao bì xi măng”.
Doanh nghiệp phải phân loại theo vật liệu cấu thành bao bì theo Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP.
Một số nhóm có thể liên quan gồm:
Nhóm bao bì Tỷ lệ tái chế bắt buộc Fs 2026
A.1.1. Bao bì giấy, carton 20% 1.900 đồng/kg
A.1.2. Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp 15% 6.420 đồng/kg
A.3.4. Bao bì nhựa mềm – đơn vật liệu 10% 8.320 đồng/kg
A.3.4. Bao bì nhựa mềm – đa vật liệu 10% 10.700 đồng/kg
Fs là mức đóng góp tài chính đối với một đơn vị khối lượng sản phẩm, bao bì theo Thông tư 24/2026/TT-BNNMT.
Ví dụ 1: Bao PP dệt
Nghị định 110 định nghĩa bao bì nhựa mềm bao gồm cả bao bì dệt từ sợi.
Do đó, bao xi măng làm từ PP dệt cần được doanh nghiệp rà soát trong nhóm A.3.4 – bao bì nhựa mềm.
Nếu cấu trúc chủ yếu là PP và đáp ứng cách phân loại là bao bì đơn vật liệu mềm, Fs tương ứng năm 2026 là 8.320 đồng/kg.
Ví dụ 2: Bao PP dệt ghép giấy Kraft
Đây là trường hợp cần kiểm tra kỹ hơn.
Bao xi măng trên thị trường có thể gồm:
lớp PP dệt;
lớp giấy Kraft;
lớp tráng hoặc kết dính;
màng PE chống ẩm;
màng BOPP hoặc các lớp vật liệu khác.
Không nên nhìn bên ngoài thấy giấy Kraft rồi mặc định toàn bộ bao bì là giấy; cũng không nên thấy PP dệt rồi mặc định toàn bộ bao bì là nhựa đơn vật liệu.
Doanh nghiệp cần dựa trên khối lượng thực tế của từng thành phần cấu tạo và phương pháp kê khai được pháp luật cho phép.
3. Bao nhiều lớp phải kê khai EPR thế nào?
Thông tư 24/2026/TT-BNNMT cho phép doanh nghiệp xử lý cấu trúc bao bì có nhiều vật liệu theo hai hướng chính.
Cách 1: Kê khai theo vật liệu có khối lượng lớn nhất
Doanh nghiệp xác định loại vật liệu có khối lượng lớn nhất cấu thành bao bì và kê khai toàn bộ khối lượng bao bì theo loại vật liệu đó.
Đây là phương án đơn giản hơn nhưng doanh nghiệp phải có dữ liệu đủ để chứng minh vật liệu nào thực sự chiếm khối lượng lớn nhất.
Cách 2: Kê khai chi tiết các vật liệu
Doanh nghiệp có thể kê khai chi tiết tối đa 03 loại vật liệu có khối lượng lớn nhất cấu thành bao bì.
Đây thường là hướng phù hợp nếu bao xi măng có cấu trúc phức tạp như:
PP dệt + Kraft + PE/BOPP.
Doanh nghiệp nên làm việc từ dữ liệu kỹ thuật của nhà cung cấp bao bì thay vì ước lượng.
4. Doanh nghiệp xi măng nên lập “hộ chiếu bao bì” cho từng loại bao
Một nhà sản xuất xi măng có thể sử dụng nhiều quy cách bao khác nhau:
bao 25 kg;
bao 40 kg;
bao 50 kg;
bao PP dệt;
bao Kraft;
bao ghép nhiều lớp;
bao dành cho từng thương hiệu hoặc dòng sản phẩm.
Nếu chỉ dùng một con số khối lượng trung bình cho toàn bộ sản phẩm, rủi ro sai lệch EPR sẽ tăng lên.
GRAC khuyến nghị doanh nghiệp xây dựng dữ liệu theo từng SKU hoặc từng quy cách bao bì, tối thiểu gồm:
Sản phẩm → quy cách đóng gói → cấu trúc bao bì → khối lượng từng vật liệu → số lượng đưa ra thị trường → tổng khối lượng bao bì → nhóm EPR → R → Fs.
Đây có thể xem như một hộ chiếu bao bì EPR.
Khi dữ liệu đầu vào tốt, việc kê khai, lựa chọn phương án tái chế và kiểm tra chứng từ sau này sẽ đơn giản hơn rất nhiều.
5. EPR bao bì xi măng được tính như thế nào?
Nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức đóng góp tài chính hỗ trợ tái chế, số tiền được xác định theo công thức:
F = R × V × Fs
Trong đó:
F: tổng số tiền đóng góp;
R: tỷ lệ tái chế bắt buộc;
V: khối lượng bao bì đưa ra thị trường;
Fs: mức đóng góp tài chính trên một kg bao bì.
Ví dụ giả định doanh nghiệp có 100 tấn bao bì nhựa mềm đơn vật liệu thuộc trách nhiệm EPR:
V = 100.000 kg;
R = 10%;
Fs = 8.320 đồng/kg.
Số tiền đóng góp tương ứng:
100.000 × 10% × 8.320 = 83.200.000 đồng.
Đây chỉ là ví dụ minh họa. Doanh nghiệp cần tính trên dữ liệu bao bì thực tế của mình.
6. Có nhất thiết phải đóng tiền vào Quỹ không?
Không.
Theo Nghị định 110/2026/NĐ-CP, đối với từng nhóm sản phẩm, bao bì, doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức phù hợp để thực hiện trách nhiệm tái chế.
Nếu lựa chọn tổ chức tái chế, doanh nghiệp có thể:
tự thực hiện tái chế;
ký hợp đồng với đơn vị tái chế;
ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế – PRO;
kết hợp các cách thức trên theo quy định.
Điều doanh nghiệp xi măng nên so sánh không chỉ là “giá tái chế một kg bao bì” với Fs.
Cần tính toàn bộ chuỗi:
thu gom → phân loại → lưu giữ → vận chuyển → tái chế → chứng từ → nghiệm thu → dữ liệu → báo cáo EPR.
Một phương án có giá thu gom thấp nhưng không tạo được chuỗi chứng từ đủ tin cậy có thể trở thành phương án đắt nhất khi đến kỳ báo cáo.
7. Bao xi măng đã qua sử dụng có thể thu gom ở đâu?
Nguồn phát sinh sau tiêu dùng có thể phân tán tại:
đại lý và cửa hàng vật liệu xây dựng;
kho phân phối;
nhà thầu xây dựng;
công trường;
cơ sở sản xuất bê tông, cấu kiện;
các đơn vị sử dụng xi măng với khối lượng lớn.
Đây cũng là đặc điểm khiến EPR bao bì xi măng khác một số loại bao bì FMCG.
Thay vì thu gom chủ yếu từ hộ gia đình, doanh nghiệp có thể xây dựng các tuyến thu hồi B2B hoặc B2B2C thông qua mạng lưới phân phối và khách hàng chuyên nghiệp.
Một mô hình có thể là:
Nhà sản xuất → nhà phân phối → đại lý/công trường → điểm thu hồi → đơn vị thu gom → đơn vị tái chế.
Nếu được thiết kế tốt, chính mạng lưới bán hàng hiện hữu có thể trở thành một phần của mạng lưới thu hồi.
8. Không phải mọi bao xi măng thu gom được đều được tính vào kết quả EPR
Đây là điểm doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý.
Nghị định 110/2026/NĐ-CP không cho phép sử dụng một số nguồn để tính vào kết quả thực hiện trách nhiệm tái chế, trong đó có:
phế liệu nhập khẩu;
bao bì là chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp;
sản phẩm lỗi bị thải loại trong quá trình sản xuất.
Do đó, doanh nghiệp không nên gom chung:
bao bì lỗi/phế trong nhà máy
với
bao bì đã được đưa ra thị trường và thu hồi sau sử dụng.
Hai dòng vật liệu cần được nhận diện và theo dõi riêng.
9. Bao xi măng tái chế thành gì mới được công nhận?
Điều này phụ thuộc vào nhóm vật liệu được kê khai.
Đối với bao bì nhựa mềm A.3.4, quy cách tái chế bắt buộc gồm:
sản xuất hạt nhựa thương phẩm; hoặc
sản xuất bao bì hoặc sản phẩm cụ thể.
Đối với bao bì giấy/carton hoặc giấy hỗn hợp đa lớp, giải pháp có thể gồm:
sản xuất bột giấy thương phẩm; hoặc
sản xuất bao bì hoặc sản phẩm cụ thể.
Như vậy, chỉ chứng minh “đã thu gom” hoặc “đã chuyển đến cơ sở xử lý” chưa đủ.
Chuỗi dữ liệu phải đi được đến kết quả tái chế phù hợp với quy cách bắt buộc.
10. Chứng từ là phần không thể tách rời của EPR
Theo Nghị định 110, hồ sơ và chứng từ đối với khối lượng được sử dụng để tính kết quả tái chế phải được lập, quản lý và theo dõi riêng biệt với các nguyên liệu tái chế khác.
Một chuỗi dữ liệu EPR tốt cần theo được ít nhất:
Nguồn phát sinh
→ Thu gom
→ Chuyển giao
→ Tiếp nhận
→ Nhập kho
→ Xuất kho đưa vào tái chế
→ Khối lượng đã tái chế
→ Sản phẩm sau tái chế
→ Nghiệm thu và báo cáo.
Đây là lý do số hóa truy xuất ngày càng quan trọng khi khối lượng và số điểm thu gom tăng lên.
11. 5 lỗi doanh nghiệp xi măng nên tránh
1. Lấy khối lượng xi măng để tính EPR
Sai. Cần tính khối lượng bao bì đưa ra thị trường.
2. Mặc định mọi bao xi măng là PP
Bao bì thực tế có thể gồm PP, Kraft, PE, BOPP hoặc nhiều thành phần khác nhau.
3. Không có dữ liệu khối lượng từng cấu phần
Tên vật liệu trên hóa đơn mua bao bì chưa chắc đủ để thực hiện kê khai EPR chính xác.
4. Thu gom nhưng không tách nguồn hợp lệ
Bao bì sau sử dụng ngoài thị trường và phế bao bì phát sinh trong sản xuất không nên được trộn thành một dòng dữ liệu.
5. Chỉ kiểm tra giấy phép của nhà tái chế mà không kiểm tra đầu ra
Doanh nghiệp còn phải quan tâm giải pháp tái chế và sản phẩm sau tái chế có đáp ứng quy cách bắt buộc hay không.
12. Doanh nghiệp xi măng nên bắt đầu từ đâu?
Một quy trình thực tế có thể gồm 6 bước:
Bước 1: Lập danh mục tất cả SKU xi măng đang đưa ra thị trường.
Bước 2: Thu thập thông số kỹ thuật và khối lượng của từng loại bao bì.
Bước 3: Mapping từng cấu phần sang nhóm bao bì EPR tương ứng.
Bước 4: Tính khối lượng bao bì đưa ra thị trường, tỷ lệ tái chế và nghĩa vụ dự kiến.
Bước 5: So sánh phương án đóng góp tài chính với phương án tổ chức tái chế.
Bước 6: Nếu tổ chức tái chế, xây dựng ngay chuỗi thu gom – tái chế – chứng từ – truy xuất thay vì chờ đến kỳ báo cáo.
GRAC có thể hỗ trợ gì?
GRAC hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và vận hành quá trình thực hiện EPR từ dữ liệu bao bì đến kết quả tái chế, bao gồm:
rà soát danh mục sản phẩm và bao bì;
mapping nhóm vật liệu EPR;
tính toán nghĩa vụ tái chế;
xây dựng hệ thống dữ liệu và truy xuất nguồn gốc;
kết nối mạng lưới thu gom và tái chế;
quản lý chứng từ, khối lượng và mass balance;
hỗ trợ tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế và chuẩn bị dữ liệu báo cáo.
Với ngành xi măng, điểm xuất phát tốt nhất không phải là hỏi “tái chế bao xi măng giá bao nhiêu?”
Câu hỏi đúng hơn là:
Bao bì chúng ta đang đưa ra thị trường thực sự gồm những vật liệu gì, khối lượng bao nhiêu và có thể truy xuất được từ lúc phát sinh đến khi hoàn thành tái chế hay không?
Khi ba câu hỏi đó được trả lời bằng dữ liệu, EPR sẽ chuyển từ một nghĩa vụ khó kiểm soát thành một quy trình có thể quản trị.
Căn cứ pháp lý
Luật Bảo vệ môi trường 2020.
Nghị định số 110/2026/NĐ-CP ngày 01/04/2026 của Chính phủ.
Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT ngày 25/05/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Bài viết mang tính chất cung cấp thông tin và không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý cho từng trường hợp cụ thể.
Văn bản tham khảo: Thông tư 24/2026/TT-BNNMT hướng dẫn thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì.